【#1】Mẹ Bầu Bị Ra Sữa Non Sớm Khi Mang Thai Có Sao Không & Điều Cần Lưu Ý

Vậy đâu là câu trả lời chính xác nhất cho vấn đề ra sữa non ở bà bầu, thời điểm ra khi nào là bình thường và nếu ra sớm hơn mức thời gian quy định thì liệu có ảnh hưởng gì hay không?

Bà bầu ra sữa non khi nào cùng các kiến thức quan trọng mẹ nên biết

  • Thông thường bà bầu ra sữa non trong khoảng tháng thứ 7 của thai kỳ.
  • Sữa non có màu vàng, đặc dính, xuất hiện vào cuối thời kỳ mang thai thường là tháng thứ 7 trở đi và lưu thông qua tuyến vú của người mẹ trong vòng 72 giờ đầu sau khi sinh con và xuất hiện ở hai ngày đầu sau khi sinh con.
  • Một số người mẹ khác không có dấu hiệu tiết sữa non mặc dù tuyến sữa vẫn hoạt động khá tốt.
  • Hiện tượng ra sữa non: Ban đầu, các mẹ sẽ thấy “đầu ti” có những gợn trắng, trông giống như mụn. Đó là dấu hiệu cảnh báo bạn chuẩn bị tiết sữa non. Khoảng một vài ngày sau đó (có khi kéo dài đến hàng tuần), bạn mới xuất hiện dấu hiệu tiết sữa thật sự.
  • Tiết sữa non không phải là bạn sắp chuyển dạ: Đây là hiện tượng tự nhiên, do tuyến vú hoạt động mạnh mẽ để chuẩn bị sữa cho em bé sắp chào đời. Nó không phải là yếu tố dự báo bạn sắp chuyển dạ hay sảy thai.
  • Không tiết sữa non, tiết sữa non ít hoặc chậm không phải là bạn sẽ thiếu sữa cho bé bú về sau: Bởi vì, trong giai đoạn cho con bú, sữa mẹ được sản xuất dựa trên hoạt động của tuyến sữa, dinh dưỡng và sức khỏe của người mẹ, nhu cầu bú của bé. Sữa sẽ tiết nhiều hơn nếu bạn cho bé bú sớm và thường xuyên.
  • Theo thống kê, cứ 100 bà bầu thì có 4-5 người có hiện tượng sữa chảy ướt áo; số còn lại là ra ít sữa hoặc không có sữa. Nhiều người mẹ chỉ xuất hiện sữa non sau khi sinh nở.

Ra sữa non sớm khi mang thai liệu có nguy hiểm hay không?

  • Sữa non có lẫn máu: Một số thai phụ hoảng hốt vì phát hiện ra chút máu có lẫn trong sữa non. Điều này là do sự phát triển quá nhanh về số lượng các mạch máu, tập trung quanh vùng ngực. Nó không cảnh báo tình trạng nguy hiểm gì về sức khỏe. Tuy nhiên, nếu sữa non có lẫn máu quá mức, đầu ngực bị căng đau thì bạn nên đi khám.

Những lưu ý cần thiết để các mẹ bảo vệ bầu ngực của mình trong thời gian mang thai

  • Bạn nên chọn áo lót bằng chất liệu cotton, tránh mặc những chiếc áo chật chội so với kích thước của bầu ngực. Những chiếc áo bó khít sẽ gây cảm giác nhức ngực, vướng víu và khiến bạn khó thở.
  • Bạn nên vệ sinh bầu ngực bằng nước ấm và khăn bông mềm. Tuy nhiên, bạn nên tránh dùng xà phòng hoặc các loại mỹ phẩm khác vì chúng có thể khiến da ngực bị kích ứng, khiến bạn đau rát.
  • Lượng sữa non được tiết ra nhiều hay ít phụ thuộc vào từng cơ thể người mẹ. Một số thai phụ bị chảy sữa nhỏ giọt, không ảnh hưởng lắm đến sinh hoạt và vấn đề thẩm mỹ. Một số thai phụ khác bị chảy sữa nhiều và liên tục tới mức ướt áo. Bạn nên thay áo lót, sử dụng tấm lót ở bên trong áo ngực và vệ sinh bầu ngực tùyvào tình trạng tiết sữa của bản thân.
  • Nhiều người mẹ có thói quen nặn ngực để sữa chảy ra nhanh hơn; tuy nhiên, bác sĩ khuyến cáo bạn không nên thực hiện điều này. Thứ nhất, việc nặn không đúng cách có thể dẫn tới hiện tượng nhiễm trùng hoặc viêm vú. Thứ hai, hành động kích thích quá mức vào ngực có thể gây nên những cơn co tử cung, dễ chuyển dạ sớm.

Hiện tượng bà bầu ra sữa non sớm và những lưu ý quan trọng mẹ cần biết chính là những thông tin hữu ích nhất nhằm mang lại cho các chị em sự hiểu biết chính xác về tình trạng này.

  • ra/sua non o tuan 17
  • mang thai 5 thang chay sua
  • sữa non trong như nước
  • sữa non trông như thế nào
  • không mang thai nhưng có sữa
  • có nên nặn sữa non khi mang thai
  • chảy sữa khi mang thai tháng thứ 4
  • sữa non có màu gì

【#2】Mẹ Bầu Bị Ra Sữa Non Sớm Vào Tháng Thứ 5 Có Phải Dấu Hiệu Cảnh Báo Sảy Thai?

Tiết sữa non là một hiện tượng bình thường trong thời kỳ mang thai. Nhưng nếu nó xuất hiện sớm thì có thể là dấu hiệu cảnh báo bất thường trong cơ thể mẹ. Vậy bầu 5 tháng ra sữa non có sao không, có nguy hiểm đến thai nhi không?

Để giải đáp băn khoăn bầu 5 tháng ra sữa non có sao không, bạn cần biết bầu mấy tháng có sữa non? Mẹ bầu tiết sữa non ở thời điểm nào của thai kỳ là bình thường?

Sữa non là gì? Bầu mấy tháng thì có sữa non?

Sữa non được xem là nguồn dinh dưỡng “vàng” cho trẻ sơ sinh. Chúng được tiết ra khoảng 48 tiếng đầu tiên sau khi sinh, có màu vàng đặc và hơi dính. Sữa non sẽ tiết ra trong 4-5 ngày tiếp theo, sau đó chuyển qua sữa màu trắng đục thông thường.

Trong sữa non chứa lượng lớn kháng thể tự nhiên tăng cường hệ miễn dịch, bảo vệ đường tiêu hóa của bé. Đồng thời, ngăn chặn rất nhiều tác nhân gây bệnh cho trẻ sơ sinh.

Vậy bà bầu mấy tháng thì có sữa non? Sữa non sẽ xuất hiện khi mẹ mang thai ở tuần thứ 28 (tháng thứ 7). Lúc này, núm ti của mẹ bầu sẽ xuất hiện các gợn trắng giống như mụn. Sau vài ngày, sữa non sẽ bắt đầu tiết ra nhiều hơn.

Tuy nhiên, không phải mẹ bầu nào cũng tiết ra sữa non. Có mẹ sẽ không tiết sữa non trong thai kỳ, tiết sữa ít hoặc chậm. Đây là điều bình thường, mẹ bầu không nên quá lo lắng về việc bầu mấy tháng có sữa non.

Theo thống kê thì cứ 100 bà bầu thì có khoảng 5 người bị chảy sữa non ướt áo, số còn lại có ít hoặc không có sữa non. Giai đoạn cho con bú, lượng sữa sẽ được sản xuất tùy thuộc vào hoạt động của tuyến sữa, dinh dưỡng, sức khỏe của người mẹ.

Bầu 5 tháng ra sữa non có sao không?

Như đã nói ở trên, sữa non thường sẽ được tiết ra từ tháng thứ 7 của thai kỳ. Bởi vậy rất nhiều mẹ bầu lo lắng băn khoăn bầu 5 tháng ra sữa non có sao không? Tiết sữa non sớm có phải là điều bất thường, cảnh báo nguy hiểm thai nhi?

Ra sữa non sớm khi mang thai có nguy hiểm không còn tùy thuộc vào thời điểm tiết sữa và dấu hiệu đi kèm. Nếu mẹ tiết sữa non sớm hơn 1 tháng, tức là tháng thứ 6 thì hoàn toàn có thể yên tâm. Nhưng nếu tiết sữa non vào tháng thứ 5 thì mẹ cần cảnh giác.

Tiết sữa non vào thời điểm này có thể là dấu hiệu cho thấy mẹ bị thay đổi nội tiết trong có thể. Mẹ bầu cần đi kiểm tra để biết có phải nồng độ prolactin đang quá cao.

Prolactin sẽ gây ức chế một số hoạt động, tiết ra nội tiết tố tuyến yên. Nó gây ảnh hưởng đến chức năng nhau thai và sự phát triển của thai nhi. Nếu không được can thiệp kịp thời sẽ gây biến chứng nguy hiểm như thai chết lưu.

Đặc biệt, việc ra sữa non sớm có thể là dấu hiệu cho thấy thai đã bị chết lưu trong bụng. Nếu dấu hiệu tiết sữa non sớm kèm đau bụng, chảy máu âm đạo thì mẹ cần đến bệnh viện ngay. Đặc biệt là với mẹ bầu có tiền sử sảy thai không rõ nguyên nhân.

Mẹ bầu nên chăm sóc bầu ngực và làm gì khi ra sữa non?

Việc ra sữa non trong lúc mang thai là một điều bình thường và là dấu hiệu rất tốt. Nó không gây mệt mỏi hay đau đớn. Nhưng lại khiến mẹ bầu gặp một số phiền toái khi bầu ngực tiết sữa.

Mẹ phải làm gì khi ra sữa non?

Để hạn chế việc bị xấu hổ ở nơi công cộng, mẹ bầu có thể áp dụng một số cách sau:

  • Dùng đầu ngón tay ấn nhẹ hoặc khoanh tay trước ngực để tạo áp lực giúp sữa ngừng tiết ra
  • Dùng miếng lót thấm sữa đặt trong áo ngực. Nó sẽ giúp thấm hết lượng sữa rỉ ra, giúp bầu ngực của mẹ khô ráo, sạch sẽ hơn
  • Mang theo một chiếc áo ngực dự phòng nếu sữa non tiết ra nhiều và mẹ bầu phải đi ra ngoài thời gian lâu

Bí quyết chăm sóc ngực dành cho bà bầu

  • Chọn áo ngực được làm bằng chất liệu cotton thoáng mát, mềm mại. Không mặc áo quá chật so với kích cỡ bầu ngực sẽ gây đau nhức và làm mẹ bị khó thở
  • Thường xuyên vệ sinh bầu ngực bằng nước ấm và khăn bông mềm. Mẹ bầu không nên dùng xà phòng hay mỹ phẩm để làm sạch bầu ngực. Bởi chúng thường có độ kiềm cao dễ khiến vùng da ngực bị tổn thương, dị ứng
  • Nếu bị tiết sữa non nhiều và liên tục tới ướt áo gây khó chịu, hôi hám, mẹ bầu nên thay áo lót thường xuyên. Có thể sử dụng vải xô hoặc tấm lót bên trong áo ngực để thấm sữa. Lưu ý là thường xuyên giữ cho bầu ngực khô, thoáng
  • Không nặn ngực để sữa chảy ra nhanh hơn. Điều này sẽ khiến mẹ bị nhiễm trùng hoặc viêm vú. Đặc biệt, việc kích thích vùng ngực dễ gây nên các cơn co tử cung, làm mẹ chuyển dạ sớm

【#3】Mẹ Bầu Ăn Yến Sào Có Tốt Không

Từ xưa, Yến sào được xem là món ăn cao lương mĩ vị giúp tăng cường sức khỏe, tỉnh táo tinh thần, tăng cường trí nhớ, thường được dùng trong những tiệc lớn của vua chúa. Vậy với mẹ bầu ăn yến sào có tốt không?

Theo lương y Vũ Quốc Trung, yến sào được dùng làm thức ăn bổ dưỡng cho các trường hợp cơ thể suy nhược, mệt mỏi, biếng ăn, khí huyết yếu kém. Yến sào còn giúp tăng thêm sức đề kháng và miễn dịch cho cơ thể, bảo vệ và làm đẹp da.

. Với thành phần nhiều axit amin, protein và khoáng chất, yến rất tốt cho bà bầu. Vì vậy mẹ bầu ăn yến sào rất tốt cho cả mẹ và thai nhi. Vì trong yến sào có nhiều acit amin, protein và nhiều khoáng chất rất tốt cho người mẹ mang thai.

Công dụng của yến sào với mẹ bầu:

giúp bảo vệ thai kỳ an toàn và thúc đẩy sự phát triển của thai nhi.

Mẹ bầu ăn yến sào giúp làm giảm nguy cơ khuyết tật ống thần kinh thường thấy ở thai nhi

Mẹ bầu ăn yến sào giúp giảm nguy cơ tiền kinh giật ở phụ nữ mang bầu đồng thời thúc đẩy quá trình phát triển toàn diện của trẻ

– giúp con phát triển thông minh hơn so với các bé khác, da trắng hồng hào

– còn giúp trẻ sau khi sinh ra được khỏe mạnh, chống được các bệnh về phổi và cơ quan hô hấp

, vậy nhưng Yến sào rất tốt cho bà bầu bà bầu nên ăn yến sào vào tháng thứ mấy?

Theo lương y Trung, khi mang thai, cơ địa bà bầu thay đổi khá thất thường nên nếu đang trong thời kỳ nghén thì không nên dùng yến sào để tránh tác dụng phụ. Sau thời kỳ thai nghén, bà bầu nên bổ sung yến sào.

Với Mẹ bầu từ 4 tháng có thể sử dụng yến sào, từ dưới 3g 1 ngày và 1 tuần dùng 3 lần.

Liều lượng ăn yến sào vừa đủ sẽ tốt cho sức khỏe mẹ và thai nhi, nên mẹ bầu an tâm khi dùng yến sào bồi bổ sức khỏe.

Từ 1 – 3 tháng: Không bắt buộc dùng yến sào.

thời kỳ này, những bộ phận, tim, ống thần kinh, cậu bé của thai nhi đang được hình thành. Vì vậy, cung cấp vô cùng nhiều dưỡng chất sẽ không hấp thụ được dẫn tới lãng phí tiền của.

Từ 3-7 tháng: dùng khoảng 100gr yến sào mỗi tháng, 5gr/ngày. Dùng đều đặn cách ngày. Phải ăn lúc bụng đói, sau lúc ngủ dậy buổi sáng hoặc trước khi đi ngủ 1 tiếng đồng hồ.

Hệ thống tiêu hóa của thai nhi lúc này đã ổn định. Bé bắt đầu nghe được âm thanh xung quanh. Hệ miễn dịch phát triển mạnh mẽ, xương bắt đầu hình thành, thai nhi giờ đã có khả năng chuyển động. Bởi thế, bổ sung dinh dưỡng trong thời kỳ này là điều khá quan trọng.

Tháng 8 cũng như tháng 9: Liều lượng yến sào bổ sung cho cơ thể lúc này phải giảm xuống, khoảng 60gr mỗi tháng, 4gr/ngày. Cách dùng hao hao phía trên.

Buổi sáng là một trong các thời điểm lí tưởng để sử dụng yến sào hiệu quả. Lúc này khi đang đói, bạn hãy sử dụng một bát soup yến, chè yến hay yến chưng đường phèn. Một số món ăn nhẹ này sẽ giúp cơ thể hấp thu được nhanh hơn một số dưỡng chất có trong yến. Giúp mẹ tăng cường năng lượng cho một ngày mới khiến cho việc hiệu quả, tinh thần sảng khoái.

– Dùng yến sào vào buổi tối trước lúc đi ngủ

Bạn bắt buộc ăn yến vào thời điểm lí tưởng là 30-45 phút trước khi đi ngủ

Đây là thời điểm mà bữa ăn chính vào buổi tối đã ngót đi trong dạ dày.

* Bạn ăn yến thời điểm này sẽ không phải cảm giác bị no. Song song ăn xong bạn được nghỉ ngơi, cơ thể có thời cơ hấp thu tối đa một số dưỡng chất.

* Thời gian này, bạn bắt buộc dùng một số món nhẹ như soup yến, chè yến hoặc nước yến. Nó sẽ giúp dạ dày không phải làm việc rất nhiều, dễ tiêu hóa kích thích giấc ngủ sâu hơn.

Vài năm trở lại đây, thị trường xuất hiện nhiều loại yến sào đa dạng với giá cả và chất lượng khác nhau. Người tiêu dùng cần lựa chọn cho mình và gia đình những sản phẩm yến sào chính hãng của những nhà cung cấp có uy tín lâu năm và chất lượng để đảm bảo sức khỏe cho cả gia đình.

là một trong những nơi uy tín, Yến sào Én Việt là sản phẩm chất lượng được công nhận và yêu thích bởi người tiêu dùng bình chọn

Yến sào Én Việt được nuôi tại Cần Giờ hái trực tiếp từ nhà yến cung cấp tới khách hàng

+ Thương hiệu xuất sắc 2021

+Top 10 sản phẩm – dịch vụ chất lượng cao 2021

+Top 10 thương hiệu uy tín-sản phẩm chất lượng – dịch vụ tin dùng 2021

♦Yến Sào Nguyên Chất cam kết hoàn tiền 200% nếu yến giả

【#4】Hiện Tượng Bà Bầu Ra Sữa Non Sớm Và Những Lưu Ý Quan Trọng Mẹ Cần Biết

Hiện tượng bà bầu ra sữa non sớm và những kiến thức quan trọng mẹ cần biết chính là những kiến thức bổ ích nhất nhằm giải đáp thắc mắc cho phần đông các chị em về vấn đề tình trạng này liệu có nguy hiểm hay không. Thông thường thì ra sữa non khi mang thai là hiện tượng khá bình thường ở bà bầu ở vào tầm cỡ tháng thứ 7 trở đi nhưng nếu xuất hiện sớm hơn thì có thể sẽ là nguy cơ cảnh báo một sự thay đổi bất thường nào đó mà người mẹ cần đặc biệt lưu ý, vì nghiêm trọng hơn có thề sẽ dẫn tới tình trạng thai chết lưu đấy.

Bà bầu ra sữa non khi nào cùng các kiến thức quan trọng mẹ nên biết

  • Thông thường bà bầu ra sữa non trong khoảng tháng thứ 7 của thai kỳ.
  • Sữa non có màu vàng, đặc dính, xuất hiện vào cuối thời kỳ mang thai thường là tháng thứ 7 trở đi và lưu thông qua tuyến vú của người mẹ trong vòng 72 giờ đầu sau khi sinh con và xuất hiện ở hai ngày đầu sau khi sinh con.
  • Một số người mẹ khác không có dấu hiệu tiết sữa non mặc dù tuyến sữa vẫn hoạt động khá tốt.
  • Hiện tượng ra sữa non: Ban đầu, các mẹ sẽ thấy “đầu ti” có những gợn trắng, trông giống như mụn. Đó là dấu hiệu cảnh báo bạn chuẩn bị tiết sữa non. Khoảng một vài ngày sau đó (có khi kéo dài đến hàng tuần), bạn mới xuất hiện dấu hiệu tiết sữa thật sự.

  • Tiết sữa non không phải là bạn sắp chuyển dạ: Đây là hiện tượng tự nhiên, do tuyến vú hoạt động mạnh mẽ để chuẩn bị sữa cho em bé sắp chào đời. Nó không phải là yếu tố dự báo bạn sắp chuyển dạ hay sảy thai.
  • Không tiết sữa non, tiết sữa non ít hoặc chậm không phải là bạn sẽ thiếu sữa cho bé bú về sau: Bởi vì, trong giai đoạn cho con bú, sữa mẹ được sản xuất dựa trên hoạt động của tuyến sữa, dinh dưỡng và sức khỏe của người mẹ, nhu cầu bú của bé. Sữa sẽ tiết nhiều hơn nếu bạn cho bé bú sớm và thường xuyên.
  • Theo thống kê, cứ 100 bà bầu thì có 4-5 người có hiện tượng sữa chảy ướt áo; số còn lại là ra ít sữa hoặc không có sữa. Nhiều người mẹ chỉ xuất hiện sữa non sau khi sinh nở.

Ra sữa non sớm khi mang thai liệu có nguy hiểm hay không?

    Sữa non có lẫn máu: Một số thai phụ hoảng hốt vì phát hiện ra chút máu có lẫn trong sữa non. Điều này là do sự phát triển quá nhanh về số lượng các mạch máu, tập trung quanh vùng ngực. Nó không cảnh báo tình trạng nguy hiểm gì về sức khỏe. Tuy nhiên, nếu sữa non có lẫn máu quá mức, đầu ngực bị căng đau thì bạn nên đi khám.

Những lưu ý cần thiết để các mẹ bảo vệ bầu ngực của mình trong thời gian mang thai

  • Bạn nên chọn áo lót bằng chất liệu cotton, tránh mặc những chiếc áo chật chội so với kích thước của bầu ngực. Những chiếc áo bó khít sẽ gây cảm giác nhức ngực, vướng víu và khiến bạn khó thở.
  • Bạn nên vệ sinh bầu ngực bằng nước ấm và khăn bông mềm. Tuy nhiên, bạn nên tránh dùng xà phòng hoặc các loại mỹ phẩm khác vì chúng có thể khiến da ngực bị kích ứng, khiến bạn đau rát.
  • Lượng sữa non được tiết ra nhiều hay ít phụ thuộc vào từng cơ thể người mẹ. Một số thai phụ bị chảy sữa nhỏ giọt, không ảnh hưởng lắm đến sinh hoạt và vấn đề thẩm mỹ. Một số thai phụ khác bị chảy sữa nhiều và liên tục tới mức ướt áo. Bạn nên thay áo lót, sử dụng tấm lót ở bên trong áo ngực và vệ sinh bầu ngực tùyvào tình trạng tiết sữa của bản thân.
  • Nhiều người mẹ có thói quen nặn ngực để sữa chảy ra nhanh hơn; tuy nhiên, bác sĩ khuyến cáo bạn không nên thực hiện điều này. Thứ nhất, việc nặn không đúng cách có thể dẫn tới hiện tượng nhiễm trùng hoặc viêm vú. Thứ hai, hành động kích thích quá mức vào ngực có thể gây nên những cơn co tử cung, dễ chuyển dạ sớm.

Hiện tượng bà bầu ra sữa non sớm và những lưu ý quan trọng mẹ cần biết chính là những thông tin hữu ích nhất nhằm mang lại cho các chị em sự hiểu biết chính xác về tình trạng này. Lưu ý rằng, trong thời gian mang thai sẽ có những khác biệt nhất định về cơ thể do nội tiết tố thay đổi nên người mẹ cần đặc biệt để tâm hơn tới những biểu hiện bất thường của mình mà có biện pháp can thiệp cũng như điều trị kịp thời, đảm bảo một thai kỳ thành công như mong đợi

【#5】Giá Sữa Similac Mới Nhất 2021: Sữa Cho Bà Bầu, Trẻ Sơ Sinh

Giá sữa Similac Isomil IQ, Neosure, Similac GainPlus IQ, Gain Plus Intelli chính thức bán ra tại các đại lý trên toàn quốc hộp 400g, 900g cụ thể bên dưới.

Sữa Similac của hãng nào, nước nào?

Sữa Similac là dòng sản phẩm sữa bột cao cấp đến từ thương hiệu nổi tiếng thế giới Abbott, cung cấp hệ dưỡng chất IQ và các năng lượng cần thiết như LCPUFA (AA & DHA), Omega 3 và 6, Taurin, Cholin và Sắt.

  • Sữa Similac chứa hệ dưỡng chất IQ, một hỗn hợp dưỡng chất đặc biệt, tương tự với các dưỡng chất tìm thấy trong sữa mẹ, bao gồm LCPUFA (AA & DHA), Omega 3 và 6, Taurin, Cholin,va Sắt. Các nghiên cứu khoa học chứng minh rằng LCPUFA cải thiện đáng kể sự phát triển thị giác và não bộ ở trẻ thiếu tháng khi cho trẻ dùng liên tục trong 12 tháng.
  • Similac giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của trẻ. Chứa hệ dưỡng chất Immutify Ingredient, một hỗn hợp các dưỡng chất tương tự với các dưỡng chất tìm thấy trong sữa mẹ bao gồm TPAN (nucleotic 72mg/l).
  • Với các dưỡng chất và thành phần chính: Năng lượng, chất đạm, chất béo, Axit Linoleic, Acid Linolenic, AA, DHA, Carnitin, Inositol, Lutein, Beta – caroten, bột đường, GOS, Taurine, Nucleotid – tương đương, các vitamins và khoáng chất sữa Similac là lựa chọn hàng đầu cho các bà mẹ đang nuôi con nhỏ hiện nay.
  • Công thức hỗ trợ phát triển vượt trội của não bộ, tăng cường sức đề kháng và nhu cầu tăng trưởng cho trẻ từ 1-3 tuổi. Cùng hệ dưỡng chất IQ giàu đạm và năng lượng thiết yếu đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển trẻ trẻ năng động cả ngày.
  • Cũng theo các chuyên gia dinh dưỡng, những dưỡng chất có trong sữa Similac đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng giai đoạn mà trẻ có sự phát triển mạnh mẽ nhất cả về trí tuệ và thể trạng. Đặc biệt hiệu quả với những trẻ sinh non, thiếu cân và suy dinh dưỡng sau sinh.

Similac có mấy loại?

Bảng giá sữa Similac mới nhất tháng 2/2018

【#6】Hiện Tượng Ra Sữa Non Sớm Khi Mang Thai Ở Bà Bầu Có Đáng Lo Ngại?

Em chào bác sĩ! Em đang bầu 5 tháng, thấy ngực bắt đầu ra sữa non. Bác sĩ cho em hỏi ra sữa non sớm có sao không ạ? Mong bác sĩ tư vấn giúp em. Em cảm ơn bác sĩ.

Câu hỏi khách hàng ẩn danh Thưa bác sĩ em bầu được 20 tuần rồi, đầu ti của em chảy không biết phải sữa non hay không, em đọc trên mạng nói sữa non ra sớm thì rất nguy hiểm em cũng đang lo. Mong bác sĩ tư vấn giúp em ạ. Em cảm ơn bác sĩ. Câu hỏi ẩn danh Chào bác sĩ: em bầu được 5 tháng, nhưng đã thấy ra sữa non, không biết có sao không ạ, em mới có đứa đầu nên không rành mong bác sĩ tư vấn giúp ạ. Em cảm ơn.

Trần Thị Kim Thoa (1994)

Chào bác sĩ. Em có thai được 37 tuần thì bên vú của em bị đau nhức. Nặn ra thì sữa lẫn màu vàng giống như là chất mỡ cho e hỏi như vậy là bị gì ạ? Mong bác sĩ tư vấn. Em cảm ơn.

Dương Thị Xuân Mai (2001)

Thưa bác sĩ em mang thai 25 tuần 5 ngày tuổi mà sữa non em chảy ra nhiều vậy có tốt cho sinh không ạ? Mong bác sĩ tư vấn. Xin cảm ơn.

Nguyễn Thị Cẩm Tiên (2000)

Chào bác sĩ, em có thai được 16 tuần có ra vài giọt sữa màu trắng đục. Xin hỏi như vậy có sao không ạ? Mong bác sĩ tư vấn. Xin cảm ơn.

Câu hỏi khách hàng ẩn danh Trả lời

Chào em! Cảm ơn em đã gửi câu hỏi tới Hệ thống Y tế Vinmec. Trường hợp của em rất bình thường, không có gì đáng lo ngại cả. Khi có thai người phụ nữ vẫn có thể có ít sữa non chảy ra từ vú, em vệ sinh vú bình thường và mặc áo ngực là được.

Thạc sĩ. Bác sĩ Tạ Quốc Bản – Bác sĩ Sản Phụ Khoa – Khoa Sản phụ khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

【#7】Mẹ Bầu Ra Sữa Non Sớm Có Sao Không?

Sữa non là nguồn thức ăn bổ dưỡng hàng đầu mà trẻ sơ sinh có thể nhận được ngay sau khi chào đời. Loại sữa này thường xuất hiện ở tuần thai thứ 28, nhưng cũng có trường hợp sớm hơn. Vậy nếu mẹ bầu ra sữa non sớm có sao không?

Sữa non của mẹ là gì? Đây là loại sữa hay xuất hiện khi mẹ mang thai tuần thứ 28 (tức thai nhi đã được 7 tháng tuổi). Nó thường có màu vàng đặc và chất hơi dính. Sữa non thường thấy vào những tháng cuối thai kỳ và tiết ra nhiều hơn sau 3 – 5 ngày sau sinh. Sau đó sữa sẽ dần chuyển sang màu trắng đục. Sữa non cũng là nguồn dinh dưỡng chính cho trẻ và tiết ra sớm hay muộn còn tùy vào từng người. Vậy những sản phụ ra sữa non sớm có sao không?

Dấu hiệu nhận biết cơ thể ra sữa non

Khi thai nhi được khoảng 28 tuần tuổi cũng là lúc các mẹ bầu cảm nhận được dấu hiệu sắp tiết sữa non. Tuy nhiên cũng phải sau đó ít nhất là 1 tuần thì lượng sữa này mới xuất hiện. Vậy những trường hợp ra sữa non sớm có sao không?

Dấu hiệu bình thường

Đầu tiên các sản phụ sẽ thấy sẽ thấy xuất hiện những gợn trắng ở đầu ti trông khá giống như mụn, ngực cương cứng và đâu. Dấu hiệu này có nghĩa là chúng ta đã chuẩn bị tiết sữa non. Khoảng vài ngày sau đó hoặc có khi là cả tuần, các sản phụ mới xuất hiện dấu hiệu tiết sữa thật sự.

Dấu hiệu nên đi khám

Sữa non tiết quá sớm: Sản phụ ra sữa non từ tháng thứ 6 trở đi là hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên nếu các mẹ thấy mình có dấu hiệu xuất hiện sữa non sớm hơn, tức là khoảng từ tháng thứ 5 trở xuống, thì cần đi khám. Lúc này chúng ta cần phải lưu ý ra sữa non sớm có sao không, bởi nó có thể là dấu hiệu cơ thể thay đổi nội tiết.

Trong sữa non có lẫn máu: Hầu hết mọi sản phụ đều cảm thấy hoảng hốt, hoang mang khi phát hiện ra chút máu có lẫn trong sữa non. Lý giải hiện tượng này là do sự phát triển quá nhanh về số lượng của các mạch máu, chúng tập trung xung quanh vùng ngực. Tuy nó không ảnh hưởng gì đến sức khỏe, nhưng nếu thấy trong sữa non có lẫn máu quá nhiều, đầu ngực bị căng đau thì các mẹ nên đi thăm khám ngay.

Mẹ bầu ra sữa non sớm có sao không là chuyện mà ai đang mang thai cũng quan tâm

Sản phụ ra sữa non sớm có sao không?

Để trả lời cho câu hỏi ra sữa non sớm có sao không, đầu tiên chúng ta phải biết được ra sữa non sớm khi mang thai là thế nào. Thường các sản phụ sẽ ra sữa non khi thai nhi đã lớn từ tháng thứ 7 trở đi. Sữa non lưu thông qua tuyến vú của người mẹ trong vòng 72 tiếng đầu sau khi sinh con và xuất hiện ở hai ngày đầu sau sinh.

Tuy nhiên cũng có một số trường hợp cá biệt là sản phụ không có dấu hiệu tiết sữa non mặc dù tuyến sữa vẫn hoạt động khá tốt. Đặc biệt khi cơ thể gặp bất thường thì việc ra sữa non sớm hơn tháng thứ 7 thai kỳ có thể là một dấu hiệu nguy hiểm. Khi đó bạn chẳng cần phải cân nhắc ra sữa non sớm có sao không nữa mà hãy đi kiểm tra ngay.

Ra sữa non sớm có thể là dấu hiệu cảnh báo thai chết lưu

Hướng dẫn chăm sóc ngực khi đang mang thai

Các sản phụ nên lựa chọn cho mình những chiếc áo lót có chất liệu cotton, mỏng và thoáng. Đặc biệt tuyệt đối không sử dụng những chiếc áo ngực chật chội hơn kích thước bầu ngực. Bởi khi bầu ngực bị bó khít bạn sẽ thấy đau ngực và khó thở vô cùng khó chịu.

Ngoài ra, mỗi ngày bạn cũng nên dành thời gian để vệ sinh bầu ngực bằng khăn bông mềm và nước ấm. Sản phẩm nên tránh sử dụng trong giai đoạn này là xà phòng tắm hay các loại mỹ phẩm bởi độ chứa kiềm cao khiến ngực bị tổn thương.

Cuối cùng, nhiều người nuôi con bằng sữa mẹ vẫn thường nặn sữa chảy ra nhanh hơn theo thói quen. Đây là một hành động sai lần, bởi nếu nặn không đúng có thể dẫn tới viêm vú hoặc nhiễm trùng. Hơn nữa khi ngực bị kích thích quá mức cũng có thể gây nên các cơn co tử cung và nguy cơ chuyển dạ sớm.

Sản phụ nên chọn áo lót có chất liệu cotton, mỏng và nhẹ

Vậy là chúng ta đã biết được ra sữa non sớm có sao không và những nguy cơ có thể gặp phải. Hy vọng thông qua đó các sản phụ sẽ có được những thông tin bổ ích trong quá trình mang thai. Và có phương án xử lý nếu chẳng may gặp phải trường hợp ra sữa non sớm không như ý muốn.

Thụy Anh

Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể.

【#8】Tháng Thứ Mấy Của Thai Kỳ Thì Sữa Non Về?

Cơ thể người mẹ đã bắt đầu quá trình sản xuất sữa từ tuần 16 – 20 của thai kỳ

Mang thai tháng thứ mấy mẹ bắt đầu có sữa non?

Thông thường đến tháng thứ 7 của thai kỳ thì các mẹ bầu sẽ ra sữa non

Sữa non có màu vàng, đặc dính, xuất hiện vào cuối thời kỳ mang thai thường là tháng thứ 7 trở đi và lưu thông qua tuyến vú của người mẹ trong vòng 72 giờ đầu sau khi sinh con và xuất hiện ở hai ngày đầu sau khi sinh con.

Những biểu hiện để nhận biết khi nào ra sữa non

Đối với một số mẹ bầu thấy ngực mình chảy sữa ở giai đoạn sớm hơn từ tháng thứ 5 hoặc tháng thứ 6 hoặc có một số mẹ bầu không có dấu hiệu tiết sữa non mặc dù tuyến sữa vẫn hoạt động khá tốt. Tuy nhiên, đó là tùy vào cơ địa của từng mẹ bầu, vậy nên các mẹ bầu cũng đừng nên quá lo lắng.

Nhiều mẹ bầu không có sữa non trong thai kỳ mà chỉ xuất hiện sữa non sau khi sinh nở

Những câu hỏi nhiều mẹ bầu hay thắc mắc khi sữa non về:

Ban đầu, các mẹ sẽ thấy “đầu ti” có những gợn trắng, trông giống như mụn. Đó là dấu hiệu cảnh báo bạn chuẩn bị tiết sữa non. Khoảng một vài ngày sau đó (có khi kéo dài đến hàng tuần), bạn mới xuất hiện dấu hiệu tiết sữa thật sự.

Không tiết sữa non, tiết sữa non ít hoặc chậm có phải là ít sữa hay không có sữa? Không phải là bạn sẽ thiếu sữa cho bé bú về sau. Bởi vì, trong giai đoạn cho con bú, sữa mẹ được sản xuất dựa trên hoạt động của tuyến sữa, dinh dưỡng và sức khỏe của người mẹ, nhu cầu bú của bé. Sữa sẽ tiết nhiều hơn nếu bạn cho bé bú sớm và thường xuyên.

Có nên nặn sữa non khi mang thai?

Theo thống kê, cứ 100 bà bầu thì có 4-5 người có hiện tượng sữa chảy ướt áo; Số còn lại là ra ít sữa hoặc không có sữa. Nhiều người mẹ chỉ xuất hiện sữa non sau khi sinh nở.

Không nên nặn sữa non sẽ gây nguy hiểm cho mẹ bầu và thai nhi

Dấu hiệu nên đi khám

Theo các bác sỹ sản khoa đều khuyên các chị em phụ nữ khi Mang thai không nên nặn sữa non. Dù sữa non là tốt nhưng nặn sữa non rất nguy hiểm cho bà mẹ và thai nhi. Khi nặn sữa, đầu vú bị kích thích tăng tiết oxytocin nội sinh và có nguy cơ gây chuyển dạ sinh non, thậm chí có trường hợp còn xuất hiện cơn co tử cung dồn dập, gây xuất huyết tử cung nhất là ở những người nhau tiền đạo, bánh nhau thấp. Vì thế, các bác sĩ đều khuyên chị em không nên nặn sữa non, ngay cả quan hệ tình dục cũng hết sức nhẹ nhàng và tránh kích thích mạnh.

Để an toàn, chị em nên đi khám thai khi thấy xuất hiện sữa non trong thai kỳ

Khi thấy hiện tượng ra sữa non (sữa màu vàng nhạt). Đây là hiện tượng bình thường, tuy nhiên trong một số trường hợp đó lại là dấu hiệu của việc thai chết lưu. Để an toàn, chị em nên đi khám thai khi thấy xuất hiện sữa non trong thai kỳ.

Sữa non có lẫn máu: Một số thai phụ hoảng hốt vì phát hiện ra chút máu có lẫn trong sữa non. Điều này là do sự phát triển quá nhanh về số lượng các mạch máu, tập trung quanh vùng ngực. Nó không cảnh báo tình trạng nguy hiểm gì về sức khỏe.Tuy nhiên, nếu sữa non có lẫn máu quá mức, đầu ngực bị căng đau thì bạn nên đi khám ngay.

Tiết sữa non quá sớm: Nếu bạn thấy dấu hiệu tiết sữa non trong quý I hoặc nửa đầu quý II, bạn nên đi khám. Nó có thể là dấu hiệu thay đổi nội tiết trong cơ thể.

Bảo vệ bầu ngực đúng cách khi mang thai:

Nếu sữa non tiết ra từ tháng thứ 4, 5, 6 kèm theo các dấu hiệu bất thường như chảy máu âm đạo, đau bụng dữ dội, cơn gò tử cung mạnh và liên tục thì cần đi khám và kiểm tra nội tiết sớm để can thiệp kịp thời.

Chị em cũng cần chăm sóc và bảo vệ ngực đúng cách

Chọn áo lót phù hợp: Để bảo vệ ngực được an toàn nhất, phụ nữ mang thai không nên thả rông ngực mà phải nâng đỡ bằng những chiếc áo ngực phù hợp. Nên chọn áo lót bằng chất liệu cotton, tránh mặc những chiếc áo chật chội so với kích thước của bầu ngực và hãy nói không với những chiếc áo bó khít sẽ gây cảm giác nhức ngực, vướng víu và khiến bạn khó thở.

Thay áo lót hoặc dùng tấm lót: Lượng sữa non được tiết ra nhiều hay ít phụ thuộc vào từng cơ thể người mẹ. Do vậy, các mẹ nên thay áo lót, sử dụng tấm lót ở bên trong áo ngực và vệ sinh bầu ngực tùy vào tình trạng tiết sữa của bản thân.

Cách chăm sóc ngực an toàn để có lượng sữa sớm và tốt nhất khi sinh nở. Chị em bầu nên xoa, massage ngực hàng ngày để tránh hiện tượng ngực bị cứng, gây tắc tia sữa sau sinh. Bên cạnh đó, bà bầu cũng cần có chế độ ăn đầy đủ dưỡng chất, uống nhiều nước suốt quá trình mang thai.

Nên đọc

Khánh Hương H+ (Tổng hợp)

【#9】Ra Sữa Non Sớm Khi Mang Thai Và Lưu Ý Mẹ Bầu Cần Biết

Ra sữa non là một hiện tượng bình thường khi mang thai. Hiện tượng này thường xuất hiện ở những tháng cuối thai kỳ. Tuy nhiên, nếu nó xuất hiện sớm hơn thì có thể sẽ là nguy cơ cảnh báo một sự thay đổi bất thường nào đó. Thậm chí là tình trạng thai chết lưu. Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này, mời chị em tham khảo bài viết ra sữa non sớm khi mang thai và lưu ý mẹ bầu cần biết.

Bà bầu mấy tháng thì có sữa non?

Sữa non là sữa của cơ thể mẹ được tiết ra trong 48 giờ đồng sau khi sinh. Ngoài việc truyền cho bé các dưỡng chất để sinh trưởng, sữa non còn cung cấp 1 lượng lớn kháng thể tự nhiên. Đặc biệt là các chất kháng thể IgG, IgA, IgF,… làm tăng hệ miễn dịch của trẻ cũng như bảo vệ đường tiêu hóa và phá hủy các tác nhân gây bệnh. Giúp cho bé tăng cường thể lực, phát triển khỏe mạnh.

Theo các chuyên gia, thông thường bà bầu sẽ ra sữa non trong khoảng tháng thứ 7 của thai kỳ. Tuy nhiên, thời gian tiết ra sữa non còn phụ thuộc vào cơ địa mỗi người. Có trường hợp ra sớm, có trường hợp ra muộn. Thậm chí có trường hợp không có sữa non khi mang thai.

Dấu hiệu tiết sữa non ở thai phụ là “đầu ti” có gợn trắng trắng giống như mụn. Chị em có thể có cảm giác ngứa ngáy. Tuy nhiên, khoảng 1 tuần hoặc vài tuần sau thì mới tiết ra sữa thật sự.

Sữa non thông thường khi tiết ra sẽ có màu vàng nhạt (màu ngà), đặc dính. Sữa non đặc biệt tốt cho sự phát triển của trẻ.

Tuy nhiên, nếu sữa non có màu lạ hoặc có lẫn chút máu thì chị em không thể chủ quan. Đây có thể là dấu hiệu cho thấy sự phát triển quá nhanh về số lượng của các mạch máu, tập trung quanh vùng ngực. Điều này không gây nguy hiểm gì về sức khỏe. Tuy nhiên, nếu sữa non có lẫn quá nhiều máu, đầu ngực bị căng đau thì chị em nên đi thăm khám ngay.

Ra sữa non sớm có sao không?

Trước hết cần phải hiểu tình trạng ra sữa non sớm là gì? Với các trường hợp bình thường, sữa non sẽ có vào tháng 7 của thai kỳ. Tuy nhiên, có một số trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau mà ra sữa non trong tháng 4, 5 hay 6 của thai kỳ. Đây được gọi là hiện tượng ra sữa non sớm khi mang thai.

Điều này rất nguy hiểm. Bởi nó cảnh báo sự thay đổi trong cơ thể hoặc có thể đây chính là những cảnh báo nguy hiểm như việc thai chết lưu.

Khi mức độ này quá cao ức chế một số hoạt động. Từ đó làm tiết ra nội tiết tố tuyến yên, gây ảnh hưởng đến chức năng nhau thai và sự phát triển của bào thai.

Tốt nhất trong trường hợp sữa non ra sớm hoặc tiết sữa non bất thường thì chị em cần thăm khám càng sớm càng tốt. Tránh các biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.

Có nên nặn sữa non khi mang thai?

Theo các chuyên gia, phụ nữ mang thai không nên nặn sữa non. Dù sữa non là tốt nhưng nếu nặn ra sẽ rất nguy hiểm cho người mẹ và thai nhi.

Bởi khi nặn sữa, đầu ti bị kích thích tiết oxytocin nội sinh. Đồng thời có thể gây chuyển dạ sinh non. Thậm chí có trường hợp còn xuất hiện cơn co tử cung dồn dập, gây xuất huyết tử cung. Nhất là những trường hợp bị nhau tiền đạo, bánh nhau thấp. Vì thế, các bác sĩ đều khuyên chị em không nên nặn sữa non. Ngay cả khi quan hệ tình dục cũng cần hết sức nhẹ nhàng và tránh kích thích mạnh.

Hạn chế tình trạng ra sữa non sớm

Để hạn chế tình trạng ra sữa non sớm, chị em nên thực hiện những điều sau:

– Chọn áo ngực đúng cách

Chị em nên chọn chiếc áo ngực bằng chất liệu cotton. Tránh mặc những chiếc áo quá chật hoặc thấm hút mồ hôi kém. Bởi điều này sẽ làm cho ngực chị em bị nhức, vướng víu và khiến khó thở.

– Vệ sinh bầu ngực

Chị em nên vệ sinh bầu ngực bằng nước ấm và khăn bông mềm. Tuy nhiên, cần tránh lạm dụng xà phòng hoặc các loại mỹ phẩm khác vì chúng có thể khiến cho da ngực bị kích ứng, khiến chị em bị đau rát.

– Thay áo lót thường xuyên

Dù ít hay nhiều thì khi thấy có hiện tượng ra sữa non, cần phải thay áo lót thường xuyên để tránh gây ứ dịch, tồn đọng tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển. Đồng thời, chị em nên sử dụng áo có miếng lót ngực bên trong.

– Bổ sung dinh dưỡng

Chị em nên bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng. Đặc biệt là những thực phẩm có chứa canxi, sắt, axit folic,… Nhờ đó giúp cơ thể khỏe mạnh, lượng sữa non ổn định hơn. Đồng thời tăng cường sức đề kháng cho thai nhi.

P.L

   Địa chỉ phòng khám: 1505 đường 3 tháng 2, Phường 16, Quận 11, chúng tôi

Đừng ngại chia sẻ tình trạng của bạn với các bác sĩ chuyên khoa chúng tôi, bởi mọi thắc mắc của bạn sẽ được các bác sĩ giải đáp và cho lời khuyên tốt nhất

Người bệnh hãy sáng suốt lựa chọn cho mình những phòng khám uy tín, cũng như tham khảo đánh giá từ phía truyền thông khi quyết định khám và chữa bệnh

【#10】Đáp Ứng Của Các Bò Cái Holstein Với Các Thí Nghiệm Xử Lý Tiêm Somatotropin Bò Khác Nhau Trong Giai Đoạn Chuyển Tiếp Và Đầu Kỳ Sữa

Các mũi tiêm cứ hai tuần một lần bST (0; 5.1; 10.2 hoặc là 15.3 mg bST /ngày) bắt đầu ngày 28 trước khi chờ đẻ và tiếp tục qua ngày 56 sau khi đẻ. 23 trong số 25 bò cái Holstein đẻ lứa con rạ được chỉ định ngẫu nhiên vào 4 nhóm đã hoàn thành trọn vẹn thí nghiệm tương ứng là (7; 5; 6 và 5 con bò cái/ nhóm). VCKAĐ, KLCT và ĐTT đã được ghi chép toàn bộ hàng tuần cả giai đoạn trước và sau khi đẻ và các mẫu máu đã được thu thập ba lần hàng tuần để phân tích ST, Insulin, T4, T3, IGF-I, glucose và axit béo không ester hóa (NEFA). Các sản lượng sữa được ghi chép hàng ngày qua suốt sau khi đẻ đến ngày 60 và các thành phần cấu thành sữa được đo lường một lần trong tuần. Mô hình toán học được sử dụng để phân tích số liệu về các giai đoạn trước và sau khi đẻ kể cả xử lý thí nghiệm, tháng sinh bê và tương tác hai yếu tố. Các bò cái được tiêm 10.2 và 15.3 mg bST sau khi đẻ có nồng độ ST và IGF-I trước khi đẻ trung bình cao hơn. Các mũi tiêm bST trước khi đẻ không làm ảnh hưởng đến KLCT trước khi đẻ hoặc ĐTT trước khi đẻ. Tính trung bình các bò cái được tiêm sau khi đẻ duy trì ĐTT của chúng tốt hơn trong suốt thời gian 60 ngày đầu của chu kỳ sữa. Các bò cái được tiêm hai liều bST cao nhất (10.1 và 15.3 mg/ngày) có nồng độ ST và T3 sau khi đẻ trung bình cao hơn, nhưng IGF-I, T4, glucose và NEFA không khác nhau qua các nhóm. Đã theo dõi thấy không có ảnh hưởng bất lợi của bST tiêm (Asian – Aust . J. Anim . Sci. 2004. Vol 17, No 6 : 784- 793).

Vấn đề đã thấy rõ trong các tài liệu rằng thí nghiệm tiêm bST làm tăng năng suất sữa (Bauman và Vernon, 1993; Bauman, 1999). Năng suất sữa tăng lên do kết quả từ cả hai ảnh hưởng trực tiếp và không trực tiếp của Somatotropin (ST ) theo con đường thay đổi sinh lý, gồm có việc phân chia các chất dinh dưỡng đến các mô tuyến vú và dựa trên số lượng tế bào tuyến vú và các hoạt động tế bào tuyến vú (Bauman và Currie, 1980; Vicini và cs., 1991; Bauman, 2000). Một ảnh hưởng gián tiếp chính của bST là làm tăng lên sự tổng hợp và giải phóng IGF-I và một lượng các protein gắn kết từ gan. Các hoạt động ở gan, mô mỡ, tuyến vú và các mô khác được IGF-I giàn hoà và các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp toàn bộ của bST dẫn đến năng suất sữa tăng lên (Bauman và Vernon, 1993; Jones và Clemmon 1995; Lucy và cs., 2001). Tình trạng dinh dưỡng có một vai trò quan trọng trong việc điều hoà trục Somatotropin ở hai loài dạ dày đơn và loài nhai lại (Breier và cs., 1986) để làm giàu có các receptor hormone sinh trưởng (GHR) và sự tổng hợp IGF-I và nồng độ huyết tương bị giảm xuống trong thời gian thiếu hụt năng lượng (Lucy và cs., 2001). Trong suốt giai đoạn chuyển tiếp và đầu kỳ sữa, các bò cái cho biết trạng thái năng lượng giảm xuống hoặc độ thiếu hụt tăng lên bởi vì VCKAĐ giảm xuống, đặc biệt là trong giai đoạn đầu kỳ sữa và với khả năng sản xuất tăng lên (Bauman và cs., 1985). Việc làm tăng VCKAĐ của các bò cái sữa theo con đường vận động của hệ thống nội tiết trong suốt giai đoạn chuyển tiếp và đầu kỳ sữa sẽ là một cách để cải tiến cân bằng năng lượng và có lẽ làm tăng tổng hợp IGF-I. Quan trọng là, VCKAĐ lớn hơn trong suốt thời gian các giai đoạn này sẽ chấp nhận tốt hơn các bò cái cao sản để đáp ứng nhu cầu năng lượng của chúng để cho năng suất sữa tăng lên và giảm mức độ huy động lipid và protein trong giai đoạn đầu kỳ sữa

Vấn đề được đưa ra giải thuyết rằng việc sử dụng bST trước khi đẻ có thể có hiệu lực như là một loại thuốc phòng bệnh đối với bệnh sốt sữa và các bệnh do trao đổi chất khác. (Eppard và cs., 1991; Eppard và cs., 1996) và từ hoạt tính nâng cao miễn dịch của bST (Burvenich và cs., 1999; Collier và Vicini, 1997). Tuy nhiên, tiêm liều cao bST (25 mg/ ngày hoặc nhiều hơn) trong thời gian giai đoạn cạn sữa cuối (Bachman và cs., 1992; Eppard và cs., 1996; Putnam và cs. , 1999) và đầu kỳ sữa (Moallem và cs., 1997; Santos và cs., 1999) đã cho đáp ứng không phù hợp đến năng suất sữa sau khi đẻ và đã cải thiện tình trạng sức khỏe. Thí dụ, Putnam và cs .(1999) đã báo cáo rằng liều lượng bST đủ tiết sữa được tiêm trước khi đẻ (500 mg bST / 14 ngày) có một sự gia tăng có ý nghĩa về năng suát sữa, trong khi mà Eppard và cs. (1996) đã báo cáo rằng liều lượng bST giống hệt nhau trước khi đẻ đã không làm tăng lên năng suất sữa lứa đẻ tiếp sau đó hoặc là làm giảm xuống rủi ro bệnh sốt sữa lứa đẻ tiếp sau hoặc là làm giảm xuống rủi ro bệnh sốt sữa. Mặc dầu nhu cầu các chất dinh dưỡng của bò cái tăng lên nhanh chóng sau khi sinh bê và không thể được đáp ứng và không thể được đáp ứng do VCKAĐ tăng lên, dựa trên nghiên cứu ban đầu (Garcia, 1998; Garcia và cs., 2000), chúng ta đã xét thấy rằng tiêm một liều bST thấp hơn trong giai đoạn chuyển tiếp sẽ kích thích VCKAĐ trong thời gian cả hai giai đoạn trước và sau khi đẻ. Như vậy, điều này sẽ giúp hạn chế tối thiểu cân bằng năng lượng bị giảm xuống và có lẽ làm giảm phạm vi ảnh hưởng các bệnh do trao đổi chất ở các bò cái sữa cao sản xung quanh thời gian sinh đẻ và dẫn đến năng suất sữa được cải thiện trong chu kỳ sữa tiếp theo sau. Tuy nhiên, mục tiêu chính của nghiên cứu này là để đánh giá và nhận diện lượng bST ít hơn thích hợp để tiêm truyền. ảnh hưởng của lượng bST tiêm được đánh giá bằng cách đo lường VCKAĐ, KLCT, ĐTT , nồng độ của ST, IGF-I , INSULIN, T3, T4, glucose và NEFA trong huyết tương, và năng suất sữa tiếp theo (0-60 ngày) khi các bò cái được tiêm trong thời gian cả hai giai đoạn trước và sau khi đẻ.

25 bò cái Holstein đẻ lứa con ra đã được chỉ định ngẫu nhiên vào một trong 4 nhóm thí nghiệm khoảng 5 tuần trước khi chờ sinh bê. Nhóm đối chứng không tiêm bST hoặc là tiêm dịch tá dược (7 bò cái), trong khi các bò cái tiêm 2 tuần một lần với liều 0.2; 0.4 hoặc 0.6 ml POSILAC (500 mg bST trong 1.4 ml, Mosanto, St. Louis, MO) đã được tiêm 5.1 mg bST/ ngày ( 6 bò cái); 10.2 mg bST /ngày (6 bò cái) hoặc là 15,3 mg bST /ngày (6 bò cái). Một bò cái trong mỗi nhóm tương ứng 5.1 mg bST /ngày và 15,3 mg bST/ngày đã bị loại trừ do bệnh viêm vú lâm sàng và sốt sữa. Số lượng các chu kỳ sữa trung bình trước đây của các bò cái trong 4 nhóm thí nghiệm, lúc bắt đầu thí nghiệm là 2,4; 2,4; 2.4 và 2.5; tương ứng. Các mũi tiêm bắt đầu 28± 3 ngày trước khi chờ sinh bê. Không lưu ý đến ngày mũi tiêm cuối cùng trước khi sinh bê, mũi tiêm sau khi đẻ đầu tiên trong vòng 24 h sinh bê và các mũi tiêm sau đó là ở khoảng cách 2 tuần với mũi tiêm cuối cùng là 56 ngày. Các mũi tiêm bST đã tiêm dưới da ở vùng sau xương bả vai hoặc là ở bên trái hay bên phải hốc u ngồi trực tràng, sau khi thu thập máu, nhưng trước khi cho ăn buổi sáng hay vắt sữa. Khối lượng cơ thể (KLCT ) và điểm thể trạng (ĐTT ) của các bò cái lúc bắt đầu thí nghiệm tương ứng có phạm vi từ 544 đến 770 kg và 3,25 đến 4,25 và độ dài thời kỳ cạn sữa, trung bình là 55,0; 55,2; 57,6 và 56,6 ngày; tương ứng. Tất cả các bò cái đã sinh bê trong một giai đoạn thời gian 4 tháng (tháng 2 đến tháng 5). Thu thập mẫu giai đoạn trước khi đẻ khác với giai đoạn chờ sinh bê ( 28 ngày), bởi vì sinh bê sớm hay muộn nhưng lấy mẫu giữa ngày 17 đến 31 và tất cả các bò cái trong 3 nhóm tiêm bST nhận được ít nhất 2 mũi tiêm bST trước khi sinh bê.

Các bò cái đã được chăm sóc quản lý ở chuồng có ô riêng có đường dẫn ra chỗ đất trống nơi chúng sinh bê. Chuồng bò đực lắp đặt có 48 cửa cho ăn máy điều khiển điện tử Calan (American Calan, Inc., Northwood, NH) và các bò cái được huấn luyện để sử dụng cửa ra vào trong thời gian tuần thứ nhất trước khi ghi chép đo lường VCKAĐ. Nước uống có sẵn trong các máng nước áp suất tự đọng để dùng tự do. Thức ăn được đưa vào một lần một này (10h00- 12h00) và việc chỉnh lý được thực hiện hàng ngày để chấp nhận 5-10% thức ăn thừa còn sót con vật bỏ lại không ăn. Bắt đầu 4 tuần trước khi chờ sinh bê, chế độ ăn đã được chuyển hướng từ một khẩu phần xa cạn sữa (FOD) thành một khẩu phần ăn Ion âm (anion) gần sát cạn sữa (CVD) (Bảng 1) để giảm xuống rủi ro chứng tụt can xi huyết (hypocalcaemia) sau khi đẻ. Sau khi sinh đẻ, tất cả các bò cái được nuôi bằng một khẩu phần phối hợp đầy đủ dựa trên thức ăn ủ chua cây ngô, hạt bông nguyên vẹn (HBNV), và thức ăn tinh dạng hạt để đáp ứng nhu cầu của các bò cái cao sản (bảng1). Các khẩu phần CUD và khẩu phần phối hợp đầy đủ (TMR) (~ 500g) được thu thập trong thời gian mỗi giai đoạn 2 tuần đã được hợp lại và một mẫu phụ đã được phân tích để lấy hàm lượng VCK, Protein thô, ADF, NDF, xơ thô, NEL, Protein hoà tan và mỡ tổng số (NEDHIA phòng thí nghiệm thức ăn thô xanh NEDHIA; Ithaca, NY).

Bảng 1: Đậm độ vật chất khô và thành phần hóa học của CUD và khẩu phần phối hợp đầy đủ cho bò tiết sữa để cho bò Holstein ăn. 1

Sản lượng sữa đã được ghi nhận mỗi trong 3 lần vắt sữa hàng ngày từ 3 đến 60 ±2 ngày sau khi đẻ. Các mẫu sữa đã được thu thập một ngày mỗi tuần tại mỗi trong 3 lần vắt sữa trong 9 tuần đầu của chu kỳ sữa. Chúng được bảo quản dùng biện pháp bảo quản quang phổ MicrotabTM. (D& F Control System, Inc). Và được phân tích để lấy hàm lượng chất béo, protein, và các tế bào soma (SCC) ở phòng thí nghiệm DHI ( South east Dairy Lab, Mc Donough, GA).

Các mẫu máu được thu thập từ mạch đuôi của tất cả các bò cái 3 lần hàng tuần trước khi cho ăn hoặc vắt sữa buổi sáng (7h30- 10h00) bằng cách sử dụng các kim lấy máu (vacutainerR) ( 2.54cm) và ống tuýp (10x100mm) chứa heparin sodium (Becton- Dickison. Fairlawn, NJ). Các mẫu được đặt vào nước đá ngay lập tức sau khi thu thập, ly tâm trong vòng 2h ở tốc độ là 3000 vòng/ phút trong 30 phút ở 5 0C (JouanGR 412 centrifuge, Wibchester, VA) và huyết tương đã được thu thập và bảo quản ở các ống tuýp Polypropylene ở – 20 0 C cho đến tận lúc phân tích.

Các kỹ thuật phân tích miễn dịch phóng xạ kháng thể kép đã được sử dụng để xác định nồng độ của ST, T3, T4 ( Garcia, 1998) IGF-I (Abribat và cs., 1990) và INC (Malven và cs., 1987) trong huyết tương. Một kỹ thuật so màu enzyme (NEFA C, Wako Pure Chemical Industries, Osaka, Japan) đã được sử dụng để xác định số lượng NEFA trong huyết tương như đã được Johuson và Peters (1993) mô tả. Glucose đã được phân tích sử dụng thủ tục men glucose oxidase (Kit 510, Sigma diagnostics, St. Louis, MO) như đã được mô tả do Raabo và Terkildsen (1960). Phân tích glucose và NEFA đã được tiến hành ở 96 đĩa vi hiệu giá chuẩn.

Các số liệu được xử lý là các bộ số liệu riêng biệt trước và sau khi đẻ sử dụng phương pháp phân tích phương sai bình phương nhỏ nhất (SAS, 1991) và các thủ tục phối hợp Proc của SAS (Littell và cs., 2000). Các số liệu đã xử lý là VCKAĐ, ĐTT , KLCT, sản lượng sữa và sản lượng sữa quy đổi 3,5 % chất béo, các thành phần cấu thành sữa, và nồng độ của Somatotropin, Insulin, IGF-I , T3, T4, và NEFA trong huyết tương. Các giai đoạn thời gian được cân nhắc để xử lý số liệu là giai đoạn trước khi đẻ toàn đàn (ngày 28 đến ngày 0), các tuần cụ thể trong giai đoạn này, giai đoạn sau khi đẻ toàn đàn ( ngày 1 đến ngày 60), các tuần trong giai đoạn này, và cụ thể là đối với VCKAĐ thì các giai đoạn thời gian 0 – 21 và 0-60 ngày say khi đẻ. Xử lý số liệu được đặt kế hoạch trước để đánh giá các mối sai khác trong số các lô thí nghiệm đối với tất cả các biến số đã đo lường. Các mô hình gồm có ảnh hưởng chính của thí nghiệm (Th.n), tháng sinh bê (Th.sb), mối tương tác 2 yếu tố Th.n x chúng tôi và sử dụng bò cái ( Th.n x chúng tôi và giới hạn sai số. Các mô hình cũng đã được sử dụng đó gồm có các tuần hay các ngày đến bậc cao nhất có ý nghĩa đối với các giai đoạn trước và sau khi đẻ toàn đàn, vì thích hợp. Các số trái ngược của các số trung bình thí nghiệm đã được so sánh đối với giai đoạn trước khi đẻ v cả đối với giai đoạn sau khi đẻ. Phân tích các mô hình cũng gồm có KLCT và ĐTT là các đồng biến số khi phù hợp. ý nghĩa thống kê đã được khai báo ở mức (p<0.05) với xu hướng chỉ rõ đến tận mức độ p< 0,01.

Bảng 2: Các số trung bình bình phương nhỏ nhất và SE đối với lượng vật chất khô ăn được, điểm thể trạng và thể trọng của các bò cái ở 4 nhóm thí nghiệm trong thời kỳ trước khi đẻ 1.

1 Các thí nghiệm = không tiêm bST; 5.1 mg bST/ngày; 10.2 mg/ngày; 15.3 mg/ngày. 2 Điểm thể trạng được tính toán dựa trên mức chia độ từ 1 đến 5 (Ferguson và cs., 1994). 3 LSM = các số trung bình bình phương nhỏ nhất.

Bảng 3: Các số trung bình bình phương nhỏ nhất và SE đối với vật chất khô ăn được, điểm thể trạng, thể trọng sau khi đẻ, sản lượng sữa và sản lượng sữa quy đổi 3.5% chất béo và SCC của các bò cái Holstein.

1 Các thí nghiệm: Không tiêm bST; 5.1 mg/ngày; 10.2 mg bST/ngày; 15.3 mg bST /ngày. 2 trung bình sau khi đẻ 0 – 21 ngày. 3 trung bình sau khi đẻ 0 – 60 ngày. 4 SCC = tổng số các tế bào Soma (x10 3).

Sau khi đẻ: Phân tích phương sai bình phương nhỏ nhất của VCKAĐ trung bình đối với hai giai đoạn sau khi đẻ đã đựơc đánh giá (0 đến 21 ngày và 0 đến 60 ngày) ở Bảng 3. Có một xu hướng đối với ảnh hưởng Th.n trong suốt thời gian sau khi đẻ 21 ngày( p<0.08) nhưng không có ảnh hưởng do chúng tôi hoặc là do tương tác 2 yếu tố. Trong suốt thời gian từ 0 đến 60 ngày thì giá trị trung bình VCKAĐ sau khi đẻ 0 đến 60 ngày không khác nhau do Th.n, chúng tôi hoặc là do mối tương tác hai yếu tố. Theo khía cạnh khác, VCKAĐ ở 1 tuần (p< 0.04) và 4 tuần (p<0.05) là cao hơn đối với các bò cái đã đựơc tiêm với liều 15.3mg bST /ngày hơn là các bò cái không được tiêm hoặc là được tiêm với liều 5.1 mg bST /ngày có VCKAĐ cao nhất (p<0.05; biểu1 ). Các mối sai khác không có ý nghĩa đã được phát hiện giữa các lô khác. Tuy nhiên, các bò cái được tiêm với liều 5.1 mg bST / ngày có khuynh hướng có lượng ăn được thấp nhất lúc 2 tuần và 3 tuần (p<0.08) và VCKAĐ của các bò cái không được tiêm bST có xu hướng thấp hơn các bò cái được tiêm với 15.3 mg bST / ngày (p<0.07)

Phân tích phương sai bình phương nhỏ nhất đối với KLCT và ĐTT trong suốt giai đoạn sau khi đẻ toàn đàn (0 đến 60 ngày) có ở bảng 3. Mặc dầu không có ảnh hưởng do Th.n, chúng tôi hoặc là mối tương tác 2 yếu tố đã được phát hiện đối với KLCT, một chiều hướng về ảnh hưởng Th.n đã được phát hiện đối với ĐTT (p<006). Tổng thể, các khuynh hướng đối với sự thay đổi ở KLCT và ĐTT là tương đương và đối ngược nhau mà sự thay đổi của VCKAĐ xảy ra trong suốt giai đoạn sau khi đẻ 0- đến 60 ngày. (Biểu 2 và 3). Những vấn đề trái ngược không trực diện đã cho thấy rằng các bò cái được tiêm với liều 10.2 và 15.3 mg bST / ngày đã duy trì ĐTT của chúng tốt hơn trong suốt giai đoạn sau khi đẻ toàn đàn tốt hơn so với các bò cái không được tiêm hoặc được tiêm với liều 5.1 mg bST / ngày (Bảng 3). Các bò cái được tiêm với liều bST cao nhất cũng có xu hướng có giá trị trung bình ĐTT cao hơn (p< 0.06) so với các bò cái ở các lô thí nghiệm khác trong thời gian giai đoạn sau khi đẻ toàn đàn (3.46 so với 3.15; 3.13 và 3.21 tương ứng).

Chiều hướng KLCT hàng tuần (Biểu 2) và ĐTT (Biểu 3) qua các lô thí nghiệm cũng đã được phân tích. Giá trị KLCT trung bình trong giai đoạn sau khi đẻ toàn đàn không khác nhau do xử lý. Các bò cái trong tất cả 4 nhóm thí nghiệm đã mất ĐTT sau khi sinh bê, như điều mong muốn, nhưng hồi phục ĐTT do các bò cái được tiêm 2 liều lớn nhất bST (10.2 và 15.3 mg/ ngày) đã được thừa nhận sau 5 tuần tiết sữa, nhưng điều này xảy ra 2 tuần sau đối với các bò cái không đựơc tiêm hoặc được tiêm đối với liều 5.1 mg bST / ngày. Các bò cái được tiêm với liều 15.3 mg bST / ngày có chiều hướng có ĐTT cao hơn trong suốt thời gian sau khi đẻ 2 tuần so với các bò cái không được tiêm hoặc được tiêm với liều 5.1 mg / ngày (p<0.01). ĐTT được duy trì tốt hơn ở các bò cái được tiêm với số lượng bST cao hơn (15.3mg/ ngày so với liều 5.1 mg/ ngày (p<0.08) và cao hơn lúc 3 tuần so với các bò cái không được tiêm (p<0.01). ĐTT được duy trì tốt hơn ở các bò cái được tiêm với số lượng bST cao hơn (15.3 mg/ ngày so với ĐTT ở các bò cái không được tiêm hoặc được tiêm với liều 5.1 mg bST/ngày, nhưng phát hiện thấy không có các mối sai khác giữa các tuần ( Biểu 3).

Sản lượng sữa và sản lượng sữa quy đổi 3.5 % chất béo. Trung bình bình phương nhỏ nhất sản lượng sữa quy đổi 3.5 % chất béo qua suốt 60±2 ngày thể hiện ở bảng 3 và các chiều hướng đối với SLS trải qua 60 ngày đầu của chu kỳ sữa thể hiện ở biểu 4. Các mối sai khác không có ý nghĩa đã được khám phá thấy vì Th.n, chúng tôi hoặc là tương tác hai yếu tố. Các bò cái được tiêm với liều 15.3 mg bST / ngày có chiều hướng có sản lượng sữa hàng ngày cao nhất lúc bắt đầu chu kỳ (p<0.09), và có sản lượng sữa và sản lượng sữa quy đổi 3.5 % mỡ sữa theo giá trị tính trung bình theo con số là lớn nhất (35.4 và 36.7 kg/ ngày, tương ứng) trong suốt 60 ngày đầu của chu kỳ sữa. Sản lượng sữa có xu hướng thấp hơn đối với các bò cái không được tiêm và được tiêm với liều 15.3 mg/ ngày trong suốt giai đoạn chu kỳ sữa toàn thể (0 đến 60 ngày). Các bò cái được tiêm với hai liều bST lớn nhất (10.2 và 15.3mg/ ngày) có xu hướng có SCC bị giảm xuống so với các bò cái không được tiêm hoặc tiêm với liều 5.1 mg bST / ngày (198.3±103.5 so với 703.2 ± 119.2x 10 3; p<0.08), nhưng không có các mối sai khác đã được phát hiện thấy do chúng tôi hoặc là tương tác hai yếu tố. Tổng thể các tỷ lệ % yếu tố thành phần sữa không khác nhau do xử lý tiêm, chúng tôi và không có mối tương tác được phát hiện thấy.

Bảng 4: Các số trung bình bình phương nhỏ nhất và SE đối với các hormone (-21 đến -1 ngày) trước khi đẻ, IGF-I, glucose và NEFA của các bò cái Holstein.

1 Các thí nghiệm: Không tiêm bST; 5.1 mg/ngày; 10.2 mg bST/ngày; 15.3 mg bST /ngày. 2 trung bình trước khi đẻ -21 – 0 ngày.

Trước khi đẻ: Các nồng độ ST, INS, T3, T4, IGF-I glucose và NEFA huyết tương của đã được đánh gía từ – 21 ngày đến -1 ngày; các giá trị trung bình và SE thể hiện ở bảng 4. Không có sự khác nhau về nồng độ trung bình của T3, T4, INS, glucose hoặc NEFA đã được phất hiện thấy trong suốt giai đoạn sau khi đẻ do Th.n, nhưng ST (p<0.01) và IGF-I (p<0.05) thì khác nhau. Những con số trái ngược của các số trung bình mẫu xử lý cho thấy rằng các nồng độ trung bình của ST là cao hơn đối với các bò cái được tiêm với hai liều lớn nhất (10.2 và 15.3 mg/ ngà; 15.17 và 20.15 mg/ ngày ) so với ở các bò cái không được tiêm và được tiêm với liều 5.1 mg bST / ngày (4.25 và 5.27 mg/ ml). Mặc dù các nồng độ của ST không khác nhau có ý nghĩa giữa các lô thí nghiệm lúc- 3 tuần, các bò cái được tiêm với 2 liều bST lớn nhất (10.2 và15.3 mg/ngày) có chiều hướng có nồng độ cao hơn tại lúc cả -2 tuần (p< 0.06) và – 1 tuần (p<0.01). Sự gia tăng nồng độ trung bình của ST cao hơn gấp 4 đến 5 lần, tương ứng, trong cùng khoảng cách thời gian đối với bò cái được tiêm với liều 10.2 và 15.3 mg bST /ngày.

Nồng độ huyết tương trung bình của INS trong huyết tương trong suốt giai đoạn trước khi đẻ không thấy khác nhau giữa các lô thí nghiệm (Bảng 4) [ Những con số trái ngược của các số trung bình thí nghiệm cho thấy rằng vào lúc 3 tuần, các bò cái được tiêm với 2 liều cao nhất (10.2 và 15.3 mg/ngày ) có nồng độ INS cao hơn có ý nghĩa so với những con bò không được tiêm hoặc được tiêm với liều 5.1 mg/ngày (p<0.03), trong khi mà nồng độ IINSS ở các bò được tiêm với liều 15.3 mg bST/ngày cao hơn so với nồng độ INS ở các bò không được tiêm hoặc được tiêm hoặc được tiêm với liều 5.1 mg bST lúc – 2 tuần (p<0.02). Nồng độ glucose và NEFA sau khi đẻ trung bình cũng cho thấy ở bảng 4. Nồng độ huyết tương trung bình của chẳng chất nào trong số các chất này khác nhau do Th.n, chúng tôi hoặc mối tương tác hai yếu tố. Tuy nhiên, trong suốt tuần sinh bê, thì nồng độ NEFA huyết tương trung bình tính theo con số là thấp nhất ở các bò được tiêm với liều 15.3 mg bST /ngày (368.2 àep/L) và có chiều hướng không có ý nghĩa đối với nồng độ NEFA cao hơn tăng dần ở các nhóm bò cái vì lượng bST tiêm giảm xuống (395.3; 449.6 và 586.6 à ep/L tương ứng).

Có chiều hướng gia tăng tuyến tính ở IGF-I vì liều lượng bST tăng lên. Các bò cái không được tiêm bST có nồng độ IGF-I huyết tương trung bình tính theo con số là thấp nhất (113 mg/ml), trái lại nồng độ ở các bò cái được tiêm với liều 5.1 và 10.2 mg/ bST /ngày là ở giữa (142 và 146 ng/ml) và nồng độ cao nhất là ở bò được tiêm với liều 15.3 mg/ngày (171 ng/ml). Tổng thể, nồng độ huyết tương trung bình của IGF-I giảm xuống trong suốt tuần trước sinh bê ở tất cả các nhóm bò thí nghiệm.

Nồng độ INS huyết tương trong suốt giai đoạn trước khi đẻ không khác nhau giữa các thí nghiệm (Bảng 4).

Sau khi đẻ: Đối với nồng độ ST, ảnh hưởng của Th.n (p<0.01); chúng tôi (p<0.06) có ý nghĩa và mối tương tác hai nhân tố (p<0.05) đã được phát hiện (Bảng 5). Nồng độ ST trung bình bình phương nhỏ nhất đối với bò không được tiêm hoặc được tiêm với liều 5.1 mg/ngày là tương tự nhau (bảng 5), nhưng chỉ có khoảng 1/3 nồng độ trung bình của các bò mà được tiêm sau khi đẻ với liều một trong hai liều bST cao nhất (10.2 và 15.3 mg/ngày )

Nồng độ INS huyết tương trung bình bình phương nhỏ nhất không khác nhau do Th.n, chúng tôi hoặc tương tác hai yếu tố đó (Bảng 5).

Tuy nhiên, như mong muốn nồng độ INS đã bị suy giảm sau khi sinh bê và vẫn còn thấp trong suốt 5 tuần đầu tiết sữa. Sau đó, sự tăng lên ở INS đã được theo dõi đối với các bò cái ở tất cả các lô thí nghiệm. Tỷ số ST /INS là cao hơn (p<0.03) đối với các bò được tiêm vói hai liều bST cao nhất.

Đối với IGF-I , không có ảnh hưởng Th.n, chúng tôi hoặc tương tác hai yếu tố đã được phát hiện trong đầu kỳ sữa (0 – 60 ngày). Tuy nhiên, nồng độ IGF-I trung bình (Bảng 5) trong suốt giai đoạn sau khi đẻ này đối với các bò được tiêm với hai liều cao nhất (10.2 và 15.3 mg bST /ngày) là khoảng 30% cao hơn so với nồng độ của các bò cái không được tiêm với liều 5.1 mg bST /ngày . Xu hướng về nồng độ cũng khác nhau trong suốt 8 tuần đầu của chu kỳ sữa.

Phân tích phương sai theo phương pháp bình phương nhỏ nhất đối với T3 và T4 ở bảng 5. Không có ảnh hưởng của Th.n, chúng tôi hoặc là tương tác hai yếu tố đã được phát hiện đối với T4. Tuy nhiên, nồng độ trung bình bình phương nhỏ nhất của T4 đối với các bò cái được tiêm với hai liều cao nhất bST (10.2 và 15.3 mg/ngày ) là cao hơn theo con số so với bò cái không được tiêm hoặc được tiêm với liều 5.1 mg/ngày (bảng 5). Đối với T3, các số trung bình có chiều hướng khác nhau qua các lô thí nghiệm (p<0.08) và mối tương tác hai nhân tố là có ý nghĩa (p<0.01). Chiều hướng đối với nồng độ trung bình của T3 là tương tự với nồng độ T4. Nồng độ trung bình bình phương nhỏ nhất của T3 là cao nhất đối với các bò được tiêm với liều bST cao nhất (15.3 mg/ngày) và nồng độ có chiều hướng giảm xuống đều đều do lượng bST tiêm vào giảm xuống.

Bảng 5: Các số trung bình bình phương nhỏ nhất và SE đối với các hormone (0 đến 60 ngày) sau khi đẻ, IGF-I, glucose và NEFA của các bò cái Holstein.

1 Các thí nghiệm: Không tiêm bST; 5.1 mg/ngày; 10.2 mg bST/ngày; 15.3 mg bST /ngày. 2 trung bình bình phương nhỏ nhất trong thời gian sau khi đẻ 0 – 60 ngày.

Đối với glucose huyết tương và NEFA, không có sự khác nhau được phát hiện do Th.n, chúng tôi hoặc tương tác 2 nhân tố; các số trung bình ở bảng 5. Trong suốt giai đoạn đầu sau khi đẻ không có xu hướng có tính hệ thống được chứng kiến thấy qua các tuần. Nồng độ NEFA huyết tương cao với bò ở tất cả lô thí nghiệm trong suốt 2 tuần đầu của chu kỳ sữa (-900à ep/L) nhưng bị suy giảm về sau này để cho đạt đến -365 à ep/L lúc 8 tuần sau khi đẻ.

Trong thí nghiệm hiện nay, 3 lượng bST hàng ngày đã được đánh giá (5.1; 10.2 và 15.3 mg bST /ngày ). Các giá trị này chỉ là 14.3 đến 42.8 % của giá trị mà hiện nay được sử dụng để nâng cao tiết sữa (POSILACR 35.7 mg bST / ngày), nhưng hai liều lượng cao hơn có xu hướng kích thích đáp ứng dương tính ở VCKAĐ sau khi đẻ và năng suất sữa. các bò cái được tiêm với liều 15.3 mg bST / ngày cũng có VCKAĐ cao hơn theo số trung bình so với các bò cái không được tiêm hoặc các bò đó nhận được liều thấp nhất (5.1m1 ) trong suốt thời gian 60 ngày đầu sau khi đẻ.

Các kết quả gợi ý rằng 2 liều lượng bST cao nhất đã đánh giá là (10.2 và 15.3 mg bST / ngày) trong suốt giai đoạn chuyển tiếp. Và đi vào đầu kỳ sữa đã gây ra sự thay đổi nồng độ ST các hormones trao đổi và IGF-I trao đổi ưu tiên ảnh hưởng dương tính đến VCKAĐ, ĐTT và SLS của các bò đã tiêm. Không có chứng cứ nào cho thấy tiêm bST gây ra cân bằng năng lượng âm tăng thêm hoặc là có ảnh hưởng dương tính hoặc âm tính rõ rệt đến sức khoẻ khi tiêm với lượng bST thấp nhất. Bởi vì ảnh hưởng dương tính đến ĐTT và SLS và không có ảnh hưởng gây hại rõ rệt đến sức khoẻ và cân bằng năng lượng, sử dụng liều bST thấp hơn (10.2 và 15.3 mg bST / ngày) trong suốt giai đoạn chuyển tiếp có thể là một chiến lược quản lý để cải thiện năng suất bò cái. Hai liều bST cao nhất nên được đánh giá với một số lượng bò cái lớn hơn trong suốt giai đoạn chuyển tiếp và đầu kỳ sữa để đánh giá hiệu ứng theo và các đáp ứng sinh lý khác như là tỷ lệ mắc bệnh và ảnh hưởng của sinh sản.