Xem Nhiều 2/2023 #️ Hành Khách Là Phụ Nữ Có Thai # Top 4 Trend | Poca-ngoaihanganh.com

Xem Nhiều 2/2023 # Hành Khách Là Phụ Nữ Có Thai # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Hành Khách Là Phụ Nữ Có Thai mới nhất trên website Poca-ngoaihanganh.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Dịch vụ khách sử dụng bình oxy (OXYG)(*)

Hành khách sử dụng bình oxy:

Giá vé: Áp dụng như khách thông thường.

Hành lý miễn cước: được mang hành lý với trọng lượng bằng 02 lần mức hành lý miễn cước tương ứng với hành trình sử dụng dịch vụ.

Mức phí áp dụng cho dịch vụ sử dụng bình oxy bao gồm:

Phí sử dụng bình oxy:

+ Chặng bay nội địa: 2.000.000VND/1bình oxy (giá tịnh chưa bao gồm VAT)

+ Chặng bay quốc tế: 200USD/1bình oxy.    

Phí vận chuyển bình oxy: Bằng mức giá áp dụng cao nhất cho người lớn và phụ thu cho mỗi ghế lắp đặt bình oxy.

Người đi cùng khách OXYG: Áp dụng giá vé và mức hành lý miễn cước như khách thông thường.

Tiếp viên đi cùng nếu khách yêu cầu.

Dịch vụ khách nằm cáng (STCR)

Hành khách nằm cáng:

Giá vé: Áp dụng như khách thông thường.

Hành lý miễn cước: được mang hành lý với trọng lượng bằng 06 lần mức hành lý miễn cước tương ứng với hành trình sử dụng dịch vụ.

Phí vận chuyển cáng: Bằng 6 lần mức giá áp dụng cao nhất cho người lớn và phụ thu.

Người đi cùng khách nằm cáng (**): Áp dụng giá vé và mức hành lý miễn cước như khách thông thường.

Tiếp viên đi cùng nếu khách yêu cầu.

Dịch vụ khách nằm cáng sử dụng bình oxy (STCR/OXYG)

Hành khách nằm cáng và sử dụng bình oxy:

Giá vé: Áp dụng như khách thông thường.

Hành lý miễn cước: được mang hành lý với trọng lượng bằng 06 lần mức hành lý miễn cước tương ứng với hành trình sử dụng dịch vụ.

Phí dịch vụ khách nằm cáng và sử dụng bình oxy:

Phí sử dụng bình oxy (*):

+ Chặng bay nội địa: 2.000.000VND/1bình oxy (giá tịnh chưa bao gồm VAT).

+ Chặng bay quốc tế: 200USD/1bình oxy

Phí vận chuyển bình oxy: Bằng mức giá áp dụng cao nhất cho người lớn cho mỗi ghế lắp đặt bình oxy và phụ thu.

Giá vận chuyển cáng: Bằng 6 lần mức giá áp dụng cao nhất cho người lớn và phụ thu.

Người đi cùng khách nằm cáng sử dụng bình oxy(**): Áp dụng giá vé và mức hành lý miễn cước như khách thông thường.

Tiếp viên đi cùng nếu khách yêu cầu.

Dịch vụ trẻ em đi một mình (UM)

Vé UM: Áp dụng như khách trẻ em/người lớn thông thường, tương ứng theo độ tuổi quy định.

Phí dịch vụ UM: 500.000VND (giá tịnh chưa bao gồm VAT) đối với chặng bay nội địa; 50USD đối với chặng bay quốc tế.

Phí cho Tiếp viên đi kèm (trong trường hợp bắt buộc phải áp dụng): Là giá áp dụng cho người lớn và phụ thu tương ứng với khoang dịch vụ mà khách yêu cầu dịch vụ sử dụng.

Dịch vụ phục vụ khách có khổ người quá cỡ (EXST)

Vé hành khách: Áp dụng như khách thông thường.

Hành lý miễn cước: được mang hành lý với trọng lượng bằng 02 lần mức hành lý miễn cước tương ứng với hành trình sử dụng dịch vụ.

Phí áp dụng cho ghế mua thêm: Bằng 100% mức giá áp dụng cho người lớn và phụ thu cho mỗi ghế mua thêm tương ứng với hạng đặt chỗ tại thời điểm phát sinh đặt dịch vụ.

Tiếp viên đi cùng nếu khách yêu cầu.

Dịch vụ xe lăn trên cabin (WCHC)

Phí dịch vụ: Miễn phí

Xe lăn của khách (nếu có) được chuyên chở miễn phí.

Vé hành khách: Áp dụng như khách thông thường.

Tiếp viên đi cùng nếu khách yêu cầu.

Dịch vụ xe lăn trên cabin (WCHC)

Dịch vụ xe lăn lên xuống máy bay (WCHS)

Dịch vụ xe lăn trên sân đỗ (WCHR)

Phí dịch vụ: Miễn phí

Xe lăn của khách (nếu có) được chuyên chở miễn phí.

Vé hành khách: Áp dụng như khách thông thường.

Tiếp viên đi cùng nếu khách yêu cầu.

Dịch vụ phục vụ khách khiếm thính (DEAF)

Dịch vụ phục vụ khách khiếm thị (BLND)

Phí dịch vụ: Miễn phí

Vé hành khách: Áp dụng như khách thông thường.

Tiếp viên đi cùng nếu khách yêu cầu.

Người lớn đi cùng từ 2 trẻ em dưới 2 tuổi (INF) trở lên

Vé hành khách (người lớn và trẻ em dưới 2 tuổi): Áp dụng như khách thông thường

Phí cho Tiếp viên đi kèm: Là giá áp dụng cho người lớn tương ứng với khoang dịch vụ mà khách yêu cầu dịch vụ sử dụng.

Tiếp viên đi cùng nếu khách yêu cầu.

Thủy Đậu Ở Phụ Nữ Có Thai

1.ĐẠI CƯƠNG.

Virus Varicella-zoster (VZV) là một trong tám loại herpes virus gây bệnh ở người. Nhiễm thủy đậu ở trẻ em thường nhẹ, bệnh tự giới hạn trong 1 – 2 tuần, trong khi nhiễm trùng ở người lớn thường nặng hơn với các biến chứng nặng có thể dẫn tới tử vong. Thủy đậu ở phụ nữ có thai thường có nhiều biến chứng, viêm phổi do thủy đậu thường nặng nề và có thể dẫn đến những bất thường bẩm sinh cho con.

Nhiễm VZV gây ra hai dạng bệnh khác nhau trên lâm sàng: varicella (thủy đậu) và herpes zoster (bệnh zona).

Thủy đậu: Nhiễm VZV nguyên phát dẫn đến phát ban mụn nước lan tỏa. Thủy đậu tiên phát ở phụ nữ có thai có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của mẹ và thai nhi:

< 2% thủy đậu gặp ở người lớn nhưng tỷ lệ tỷ vong do thủy đậu chiếm ¼ ở độ tuổi này. Vì vậy, phụ nữ mang thai là nhóm bệnh nhân nguy cơ biến chứng và tử vong cao đáng kể.

Mẹ mắc thủy đậu trong thời kỳ đầu mang thai (8 – 20 tuần), thai nhi có nguy cơ mắc hội chứng thủy đậu bẩm sinh, đặc trưng bởi chứng chi ngắn, tổn thương da, bất thường về thần kinh và cấu trúc mắt.

Bệnh thủy đậu ở bà mẹ khi mang thai có nguy cơ phát triển bệnh zona ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Mẹ mắc bệnh thủy đậu ngay trước hoặc ngay sau khi sinh, em bé có nguy cơ mắc bệnh thủy đậu sơ sinh.

2.DỊCH TỄ HỌC

Tỷ lệ mắc thủy đậu không cao hơn ở phụ nữ mang thai so với mặt bằng chung của người lớn, nhưng mức độ nghiêm trọng của bệnh thường nặng nề hơn. Viêm phổi do thủy đậu chiếm 10 – 20 % các nhiễm trùng gây biến chứng ở thai kì. Các yếu tố nguy cơ của viêm phổi do thủy đậu khi mang thai bao gồm tiền sử hút thuốc và nhiều hơn 100 tổn thương mụn nước ở da.

Các nghiên cứu thực hiện từ năm 1986 – 2002 cho thấy hội chứng thủy đậu bẩm sinh là không phổ biến, 2% phụ nữ mang thai nhiễm thủy đậu trong 20 tuần đầu thai kì sinh con mắc hội chứng thủy đậu bẩm sinh. Trong nghiên cứu tiến cứu lớn nhất về bệnh thủy đậu ở mẹ, đã có 344 trường hợp mắc zona ở mẹ và không có trường hợp nào mắc bệnh thủy đậu bẩm sinh ở con.

Tiêm phòng thủy đậu đã làm giảm số lượng nhiễm trùng thủy đậu ở mẹ và thai nhi, giảm 85% các trường hợp mắc bệnh thủy đậu ở trẻ sơ sinh so với thời kì chưa có vaccine thủy đậu.

3.ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

3.1 Thủy đậu không biến chứng: Hình thái lâm sàng giống thủy đậu thông thường.

– Cơ năng: Thường ngứa, có thể sốt nhẹ, mệt mỏi, đau mỏi cơ 1 -4 ngày trước khi phát ban da.

– Phát ban da: thường  khởi đầu ở mặt, sau đó lan đến thân mình và tứ chi, tiến triển từ 1 – 4 ngày. Bắt đầu là sẩn đó , sau đó hình thành mụn nước lõm giữa, nếu bội nhiễm hình thành các mụn mủ. Các tổn thương vỡ sau đó đóng vảy, vảy bong có thể để lại dát tăng giảm sắc tố do viêm.

Hình 1: Phát ban đặc trưng của thủy đậu: Mụn nước, mụn mủ lõm giữa.

3.2 Thủy đậu có biến chứng;

Viêm phổi do thủy đậu là biến chứng thường gặp nhất do thủy đậu ở phụ nữ có thai. Các dấu hiệu và triệu chứng chủ yếu là ho, khó thở, sốt và thở nhanh. Viêm phổi thường phát triển trong vòng một tuần sau khi phát ban. Diễn biến lâm sàng không thể dự đoán và có thể nhanh chóng tiến triển đến tình trạng thiếu oxy và suy hô hấp. X-quang ngực có hình ảnh thâm nhiễm lan tỏa hoặc các nốt  trong phân bố quanh 2 rốn phổi.

4.BIẾN CHỨNG

4.1 Hội chứng thủy đậu bẩm sinh, được mô tả lần đầu tiên vào năm 1947, được đặc trưng bởi:

Sẹo da

Bất thường về thần kinh (ví dụ, chậm phát triển tâm thần, tật đầu nhỏ, não úng thủy, co giật, hội chứng Horner)

Bất thường ở mắt (ví dụ, teo dây thần kinh thị giác, đục thủy tinh thể, viêm màng bồ đào, rung giật nhãn cầu)

Bất thường về chi thể (chi ngắn, teo, nhược chi)

Bất thường đường tiêu hóa (trào ngược dạ dày, tắc ruột)

Cân nặng khi sinh thấp

Hội chứng thủy đậu bẩm sinh có tỷ lệ tử vong là 30% trong vài tháng đầu đời và 15% nguy cơ phát triển zona trong bốn năm đầu đời.

Hình 2: Các đặc trưng lâm sàng của hội chứng thủy đậu bẩm sinh

4.3 Nhiễm thủy đậu sơ sinh – Nhiễm thủy đậu sơ sinh là kết quả của việc truyền virus từ mẹ sang thai nhi ngay trước khi sinh ( 5 ngày trước sinh đến 2 ngày sau sinh).

Hình 3: Tổn thương thủy đậu ở trẻ sơ sinh 5 ngày tuổi có mẹ mắc thủy đậu thai kì

5.CHẨN ĐOÁN

5.1 Thủy đậu thai kì:

Chẩn đoán dựa vào lâm sàng.

Nếu có nghi ngờ về chẩn đoán lâm sàng, có thể làm thêm xét nghiệm PCR dịch mụn nước hoặc xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang. VZV cũng có thể được nuôi cấy từ dịch mụn nước, mặc dù virus nhân lên chậm và nuôi cấy kém nhạy hơn các kỹ thuật phát hiện trực tiếp.

Xét nghiệm huyết thanh thường không cần thiết để chẩn đoán bệnh thủy đậu ở mẹ và có thể gây nhầm lẫn do các xét nghiệm khác nhau về độ nhạy và độ đặc hiệu.

Chẩn đoán viêm phổi do varicella nên được xem xét khi một phụ nữ mang thai có tổn thương da điển hình, tiếp xúc với nguồn lây và có các triệu chứng hô hấp.

5.2 Hội chứng varicella bẩm sinh

Chẩn đoán trước sinh – Sau khi nhiễm trùng mẹ, nguy cơ mắc hội chứng thủy đậu bẩm sinh có thể được ước tính bằng cách sử dụng xét nghiệm PCR máu hoặc nước ối thai nhi tìm DNA VZV kết hợp với siêu âm để phát hiện các bất thường của thai nhi.

Xét nghiệm PCR có độ nhạy cao, thực hiện từ tuần 17 -21 thai kì. Siêu âm hình thái thai nên thực hiện năm tuần sau khi nhiễm trùng mẹ để đánh giá các bất thường của thai nhi phù hợp với hội chứng thủy đậu bẩm sinh, siêu âm lặp lại từ 22 đến 24 tuần được chỉ định. Nếu siêu âm lặp lại là bình thường, nguy cơ hội chứng varicella bẩm sinh là rất thấp. Nếu siêu âm cho thấy bằng chứng của hội chứng thủy đậu bẩm sinh, mẹ nên được tư vấn về khả năng mắc bệnh thai nhi.

Chẩn đoán sau sinh – Chẩn đoán hội chứng thủy đậu bẩm sinh dựa vào.

Tiền sử nhiễm thủy đậu của mẹ trong ba tháng đầu hoặc 3 tháng giữa của thai kỳ

Bất thường thai nhi phù hợp với hội chứng thủy đậu bẩm sinh

Bằng chứng nhiễm trùng VZV trong tử cung, dựa vào: xét nghiệm PCR tìm DNA virus ở trẻ sơ sinh; sự hiện diện của kháng thể IgM đặc hiệu VZV trong máu cuống rốn; sự tồn tại của VZV IgG sau bảy tháng tuổi; mắc bệnh zona trong giai đoạn sớm.

6.ĐIỀU TRỊ THỦY ĐẬU TRONG THAI KÌ

6.1 Thủy đậu không biến chứng.

– Khuyến cáo điều trị bằng acyclovir đường uống cho tất cả phụ nữ mang thai: 800 mg x 5 lần/ngày x 7 ngày, điều trị bằng acyclovir có hiệu quả nhất trong vòng 24 giờ đầu.

Chưa có nghiên cứu về sử dụng acyclovir đường uống trong điều trị thủy đậu không biến chứng ở phụ nữ mang thai. Mặc dù dữ liệu động vật và dữ liệu quan sát từ phụ nữ có thai lớn không cho thấy khả năng gây quái thai của acyclovir. Một nghiên cứu tiến cứu trên thai kỳ phơi nhiễm acyclovir cho thấy tăng tỷ lệ dị tật bẩm sinh hoặc thay đổi mô hình dị tật bẩm sinh ở 596 trẻ được theo dõi.

Một thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng giả dược ở người trưởng thành nam và nữ đánh giá hiệu quả của acyclovir trong vòng 72 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng cho thấy vết thương ngoài da lành nhanh hơn và thời gian sốt rút ngắn hơn.

6.2 Viêm phổi do thủy đậu

– Viêm phổi do thủy đậu ở thai kì là một cấp cứu y tế, tỷ lệ tử vong ở phụ nữ mang thai khi chưa có thuốc kháng virus là 36- 40%. Mặc dù không có thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát acyclovir trong điều trị viêm phổi thủy đậu, dữ liệu quan sát cho thấy tác động có lợi của liệu pháp kháng vi-rút đối với tỷ lệ tử vong của mẹ.

Một nghiên cứu hồi cứu 21 trường hợp viêm phổi do varicella ở phụ nữ mang thai được điều trị bằng acyclovir, tỷ lệ tử vong là 14%, thấp hơn so với nhóm phụ nữ không được điều trị.

Một nghiên cứu quan sát trên 18 bệnh nhân bị viêm phổi thủy đậu, 12 bệnh nhân trong đó cần đặt nội khí quản và thở máy được điều trị bằng acyclovir, tỷ lệ tử vong là 0%.

Mặc dù acyclovir đi qua nhau thai, chưa có dữ liệu chứng minh thuốc kháng vi rút này có làm giảm nguy cơ mắc hội chứng vthủy đậu bẩm sinh hay không.

7.TÓM TẮT VÀ KIẾN NGHỊ

Nhiễm virut Varicella-zoster (VZV) gây ra hai dạng bệnh khác nhau trên lâm sàng: varicella (thủy đậu) và herpes zoster (bệnh zona). Thủy đậu thường nhẹ, tự giới hạn ở trẻ em khỏe mạnh, nhưng đôi khi có thể dẫn đến bệnh tật nghiêm trọng khi mang thai.

Tỷ lệ mắc bệnh thủy đậu thấp ở người lớn vì hầu hết đều có kháng thể với virus. Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh thủy đậu không tăng ở nhóm phụ nữ mang thai, nhưng mức độ nghiêm trọng của bệnh cao hơn trong thai kỳ.

Tỷ lệ mắc hội chứng thủy đậu bẩm sinh ở phụ nữ có thai mắc thủy đậu thường thấp (0,4-2%).

Varicella rất dễ lây lan, thời gian dễ lây lan nhất từ một đến hai ngày trước khi phát ban cho đến khi các tổn thương bị vỡ. Lây truyền VZV từ mẹ sang con có thể xảy ra ở tử cung, chu sinh hoặc sau sinh.

Một trong những biến chứng thường gặp nhất cho mẹ nhiễm thủy đậu thai kỳ là viêm phổi, diễn biến lâm sàng là không thể dự đoán và có thể nhanh chóng tiến triển đến tình trạng thiếu oxy và suy hô hấp, với tỷ lệ tử vong cao.

Hội chứng thủy đậu bẩm sinh được đặc trưng bởi sẹo ở da, chậm phát triển và các bất thường về thần kinh, mắt và chi.

Chẩn đoán nhiễm trùng thủy đậu ở mẹ dựa vào lâm sàng với các phát ban mụn nước đặc trưng.

Sử dụng xét nghiệm PCR của máu thai nhi hoặc nước ối để tìm VZV DNA có thể dự đoán khả năng mắc thủy đậu ở con, kết hợp với siêu âm để phát hiện các bất thường cấu trúc của thai nhi.

Acyclovir không gây quái thai, khuyến cáo sử dụng acyclovir đường uống cho phụ nữ mang thai nhiễm thủy đậu không biến chứng (Độ 2C), cho phụ nữ mang thai bị viêm phổi thủy đậu (Độ 1B). Acyclovir nên được tiêm tĩnh mạch với liều 10 mg / kg cứ sau 8 giờ ở những bệnh nhân bị nhiễm thủy đậu biến chứng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Laura E Riley, MD, Varicella-zoster virus infection in pregnancy, uptodate, 8/2019.

Lamont RF, Sobel JD, Carrington D, et al. Varicella-zoster virus (chickenpox) infection in pregnancy. BJOG 2011; 118:1155.

Marin M, Güris D, Chaves SS, et al. Prevention of varicella: recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices (ACIP). MMWR Recomm Rep 2007; 56:1.

Enders G, Miller E, Cradock-Watson J, et al. Consequences of varicella and herpes zoster in pregnancy: prospective study of 1739 cases. Lancet 1994; 343:1548.

Cohen A, Moschopoulos P, Stiehm RE, Koren G. Congenital varicella syndrome: the evidence for secondary prevention with varicella-zoster immune globulin. CMAJ 2011; 183:204.

Stagno S, Whitley RJ. Herpesvirus infections of pregnancy. Part II: Herpes simplex virus and varicella-zoster virus infections. N Engl J Med 1985; 313:1327.

Bài viết: BSNT Nguyễn Thị Thảo Nhi

Đăng bài: Phòng CTXH

Phụ Nữ Đang Có Thai Triệt Lông, Wax Lông Được Không?

Bác sĩ cho cháu hỏi, phụ nữ có thai triệt lông hay wax lông được không? Trước chân tay cháu nhẵn nhụi, ít lông mà từ khi mang bầu thì lông mọc nhiều hơn, nhìn rất mất thẩm mỹ. Cháu ngại không dám thường xuyên mặc váy nữa. Giờ muốn tẩy lông nhưng lại sợ, có ảnh hưởng tới thai nhi không ạ?

(Thảo Hoàng, Hà Nam)

Cũng vì điều này mà chị em cảm thấy tự ti, ngại diện váy áo. Vì vậy, việc triệt lông, wax lông khi có thai cũng là nhu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, hầu hết đều lo sợ ảnh hưởng tới thai nhi trong bụng.

Vậy phụ nữ có thai triệt lông, wax lông được không?

Wax lông, hay còn gọi là waxing là một trong những phương pháp tẩy lông bằng sáp được nhiều người áp dụng vì tính hiệu quả cao, giúp lấy đi tận gốc sợi lông và tế bào chết trên bề mặt da.

Hiện tại, vẫn chưa có nghiên cứu hay bằng chứng khoa học nào cho rằng phụ nữ có thai triệt lông, wax lông sẽ gây hại cho thai nhi. Tuy nhiên, việc này có thể gây một số ảnh hưởng nhất định đối với thai phụ như:

– Ảnh hưởng tới sức khỏe: Việc sử dụng các loại kem triệt lông, wax lông chứa nhiều hóa chất có thể ảnh hưởng tới sức khỏe của cả mẹ lẫn thai nhi trong bụng.

– Tổn thương làn da: Khi mang thai, làn da của mẹ nhạy cảm hơn. Khi triệt lông, wax lông có thể dẫn đến những kích ứng, tổn thương, viêm da.

– Phụ nữ có thai triệt lông, wax lông cũng không cho hiệu quả như mong đợi vì nội tiết tố trong cơ thể thường xuyên thay đổi để thích ứng với sự phát triển của thai nhi. Dù có triệt lông thì cũng chỉ được trong thời gian ngắn, lông sẽ lại mọc dài ra bình thường.

Vì vậy, tốt nhất phụ nữ có thai KHÔNG nên triệt lông, wax lông, vừa đảm bảo sức khỏe, vừa không lo việc phải tẩy đi, tẩy lại. Nên đợi cho tới khi nội tiết tố trong cơ thể ổn định trở lại (6 tháng sau khi sinh là khoảng thời gian thích hợp nhất).

Nếu vẫn muốn triệt lông, wax lông thì mẹ cần lưu ý những gì?

Như đã nói ở trên thì chưa có nghiên cứu cho rằng phụ nữ có thai triệt lông, wax lông gây hại cho thai nhi nên không thể cấm cản các mẹ làm đẹp, “dọn dẹp” vùng da nhiều lông của mình. Vì vậy, với những thai phụ quyết tâm triệt lông thì cần lưu ý:

– Nên triệt lông bằng những phương pháp tự nhiên, an toàn.

– Sử dụng các sản phẩm triệt lông, wax lông lành tính, không chứa hóa chất.

– Nếu làm ở các spa thì nên chọn nơi uy tín, hỏi kỹ về các sản phẩm sẽ dùng để triệt lông (thành phần, xuất xứ…)

– Chỉ triệt lông, wax lông tại những vùng da như cánh tay, chân, nách. Đối với những vùng da nhạy cảm như trên gương mặt, vùng “tam giác mật”, vùng da bị mụn, có nốt ruồi, nứt nẻ… thì không nên vì có thể dẫn đến đau rát, tổn thương da.

Một số phương pháp triệt lông an toàn cho phụ nữ có thai

– Phụ nữ có thai triệt lông bằng bơ: Bôi 1 lớp bơ lên vùng da cần tẩy lông. Dùng 1 lớp giấy mềm miết nhẹ trên bề mặt da, để khoảng 2 – 5 phút. Cuối cùng lột miếng giấy ngược lại theo chiều lông mọc. Động tác cần nhanh, gọn, dứt khoát để loại bỏ sợi lông.

– Triệt lông bằng chanh, mật ong, đường: Chuẩn bị 1 bát đường nhỏ, 1 thìa nước cốt chanh và 3 – 4 thìa mật ong. Trộn đều rồi đun nóng hỗn hợp này lên đến khi đường tan ra và tạo thành hỗn hợp sền sệt. Để nguội bớt đến khi còn ấm thì bôi đều lên vùng da muốn tẩy lông. Đặt 1 miếng giấy mỏng, miết đều theo chiều lông mọc, khoảng 30 giây thì lột ngược lại để lấy đi các sợi lông.

– Có thai triệt lông bằng lá trầu: Sử dụng khoảng 100g lá trầu không, đun sôi lên, nghiền nát lá và chắt lấy phần nước cốt. Dùng bông thấm nước lá trầu không rồi thoa lên da, để khoảng 10 phút rồi thực hiện thoa lần thứ 2. Cứ lặp lại như thế cho đến lần thứ 5 thì miết nhẹ trên da ngược theo chiều lông mọc, giúp lấy đi các sợi lông dễ dàng. Nên thực hiện phương pháp này 3 lần/tuần.

Nguồn: chúng tôi

Bệnh Tim Là Nguyên Nhân Hàng Đầu Khiến Phụ Nữ Mang Thai Tử Vong

05/11/2012

Bệnh tim là nguyên nhân hàng đầu khiến phụ nữ mang thai tử vong

BS.CK1. Nguyễn Thị Từ Anh (Dịch)K. Sơ sinh – BV Từ Dũ

Theo một nghiên cứu vừa mới được đăng tải ngày 11 tháng 9 năm 2012 trên phiên bản điện tử của Tạp chí tim mạch châu Âu, phụ nữ mang thai mắc bệnh tim tử vong nhiều gấp 100 lần so với phụ nữ mang thai có sức khỏe bình thường. Các tác giả nghiên cứu cũng nhận thấy có khoảng 0,9% phụ nữ mang thai ở Anh có bệnh tim. Theo tiến sĩ Mark Johnson (Đại học Hoàng gia London, Anh), một trong những tác giả nghiên cứu, bệnh tim là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất đối với phụ nữ mang thai. Nguyên nhân này nhiều gấp 3 lần so với nguyên nhân thuyên tắc tĩnh mạch sâu và gấp 6 lần so với nguyên nhân xuất huyết. Vì vậy, cần quan tâm hơn đến vấn đề tim mạch của phụ nữ mang thai và cần tầm soát tốt hơn. Nếu phụ nữ bệnh tim được điều trị và theo dõi bệnh tốt thì tỷ lệ biến chứng rất thấp. Điểm then chốt là các phụ nữ bệnh tim cần được phát hiện bệnh trước khi mang thai để được điều trị ổn định và được theo dõi thường xuyên trong suốt thai kỳ. Trong thai kỳ, việc chẩn đoán bệnh tim rất khó khăn vì các triệu chứng của bệnh tim thường bị nhầm lẫn với những triệu chứng của mang thai như khó thở, mệt mỏi và ợ nóng. Đồng thời, các bác sĩ cũng ít nghĩ đến bệnh lý tim khi khám các phụ nữ mang thai. Vì thế, khi chăm sóc thai phụ có các yếu tố nguy cơ như lớn tuổi, béo phì, đái tháo đường hoặc tăng huyết áp thì các bác sĩ và nữ hộ sinh cần nghi ngờ bệnh tim nếu thai phụ than phiền bị đau ngực hoặc khó thở để chuyển họ đến bác sĩ chuyên khoa tim mạch kịp thời.

Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ năm 2007 đến năm 2011, ghi nhận 1321 phụ nữ mang thai ở 28 quốc gia. Trong số này, bệnh lý tim bẩm sinh chiếm 66%, bệnh lý van tim chiếm 25%, bệnh cơ tim chiếm 7% và bệnh tim thiếu máu chiếm 2%. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong của phụ nữ mang thai bị bệnh tim là 1%, so với tỷ lệ tử vong của phụ nữ mang thai có sức khỏe bình thường là 0,007%. Các phụ nữ bị bệnh cơ tim có dự hậu xấu nhất vì có tỷ lệ suy tim và rối  loạn nhịp tim nhiều hơn. Các phụ nữ bị bệnh van tim thường bị xuất huyết sau sinh hơn, có thể vì dùng nhiều thuốc chống đông máu. Tỷ lệ tử vong giữa các quốc gia đang phát triển cũng cao hơn các quốc gia phát triển, 3,9% so với 0,6%.

Tỷ lệ thai lưu của phụ nữ bệnh tim cũng cao gấp 5 lần và con của họ bị tử vong trong vòng 30 ngày sau sinh cũng cao gấp 1,5 lần. Tuy nhiên, các tỷ lệ này khác biệt rất lớn giữa các quốc gia đang phát triển và đã phát triển.

Kết quả điều  trị của thai phụ bệnh tim so với thai phụ có sức khỏe bình thường.

KQ điều trị

Thai phụ bình thường (%)

Bệnh tim bẩm sinh (%)

Bệnh van tim (%)

Bệnh cơ tim (%)

Bệnh tim thiếu máu cục bộ (%)

Tử vong của mẹ

0.007

0.5

2.1

2.4

0

Suy tim

0

8.0

18

24

8.0

Sinh mổ lấy thai

23

38

42

58

60

Tử vong của con

0.35

0.5

3.9

4.5

4.0

Một số phụ nữ không biết mình có bệnh tim và khi mang thai thì bệnh mới biểu hiện rõ. Thí dụ, bệnh cơ tim có thể chỉ biểu hiện triệu chứng khi mang thai. Một số bệnh nhân bị bệnh tim bẩm sinh được chẩn đoán khi còn nhỏ nhưng không còn theo dõi khi trưởng thành. Có nhiều quốc gia, người phụ nữ bị áp lực phải sinh con nên mặc dù bị bệnh tim vẫn mang thai. Bệnh lý van tim do bệnh thấp vẫn còn phổ biến ở các quốc gia đang phát triển nhưng ít gặp ở các quốc gia đã phát triển. Nghiên cứu này còn tiếp tục tiến hành trong vài năm tiếp theo và kết quả nghiên cứu sẽ giúp có những kế hoạch chăm sóc phụ nữ mang thai tốt hơn.

Nguồn:

www.medscape.com

Bạn đang xem bài viết Hành Khách Là Phụ Nữ Có Thai trên website Poca-ngoaihanganh.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!