Xem Nhiều 2/2023 #️ Đau Lưng Ở Phụ Nữ Mang Thai # Top 7 Trend | Poca-ngoaihanganh.com

Xem Nhiều 2/2023 # Đau Lưng Ở Phụ Nữ Mang Thai # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Đau Lưng Ở Phụ Nữ Mang Thai mới nhất trên website Poca-ngoaihanganh.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

 1. Tăng cân:

2. Thay đổi trọng tâm:

Bình thường vị trí thắt lưng của cột sống người đã cong và ưỡn ra phía trước. Khi mang thai tử cung lớn đổ về phía trước (đặc biệt những người sanh con rạ, thành bụng nhão), làm cho cột sống thắt lưng bị ưỡn nhiều hơn.

3. Nội tiết tố thai kỳ:

Những nội tiết tố của thai kỳ làm cho các dây chằng và khớp xương của cột sống (đặc biệt là cột sống thắt lưng) và vùng chậu dãn ra và căng hơn. Điều này làm suy yếu chức năng của các dây chằng khiến phụ nữ đau lưng, đau khớp vệ và đau vùng chậu.

4. Sự tách của cơ thẳng bụng:

Khi tử cung lớn lên làm bụng căng ra có thể làm cho 2 cơ thẳng bụng bị tách ra (là cơ thẳng đi từ đầu của các xương sường đến xương mu), điều này khiến cho người phụ nữ bị đau lưng và có nguy cơ thoát vị thành bụng nếu tình trạng tách cơ nhiều và không hồi phục.

5. Stress:

khi mang thai tâm trạng của người phụ nữ rất nhạy cảm, dễ tổn thương, dễ bị stress. Khi bị stress các cơ dựng sống (cơ phía sau lưng bên cạnh các cột sống) co cứng gây đau lưng.

6. Ngoài ra đau lưng ở người phụ nữ mang thai còn có thể do tư thế sai trong sinh hoạt, làm việc hàng ngày: đứng quá lâu, ngồi lâu sai tư thế, cúi nhiều,…

Triệu chứng đau lưng có thể từ nhẹ xuất hiện khi đứng hoặc ngồi lâu cho đến nặng ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, thậm chí không thể đi hoặc đứng được. Nhiều phụ nữ bị đau lưng và nghĩ rằng đây là vấn đề đương nhiên có trong thai kỳ, nên cố gắng chịu đựng. Tuy nhiên chứng đau lưng trong thai kỳ có thể hết sau khi sanh, nhưng cũng không ít trường hợp kéo dài sau sanh và trở thành mãn tính. Như vậy cần phải có cách giải quyết triệu chứng đau lưng trong thai kỳ, giúp chất lượng cuộc sống người phụ nữ mang thai tốt hơn, cũng như không dẫn đến tình trạng đau lưng mãn tính sau sanh.

1. Luyện tập thể dục:

Việc luyện tập thường xuyên và đều đặn trong thai kỳ giúp làm giảm bớt tình trạng đau lưng trọng thai kỳ. Đối với những trường hợp đau nhiều tốt nhất nên được tập luyện với huấn luyện viên hoặc các chuyên gia vật lý trị liệu chuyên cho người phụ nữ mang thai.

2. Nóng và lạnh:

Việc chườm nóng hoặc lạnh cũng có thể làm giảm triệu chứng đau lưng. Việc dùng một khăn lạnh (có thể dùng túi lạnh chuyên dụng) chườm vào vùng lưng trong 20 phút và thực hiện vài lần trong ngày. Sau khi chườm lạnh 2-3 ngày, triệu chứng giảm bớt chuyển sang chườm nóng. Dùng khăn ấm hoặc túi nước ấm chuyên dụng chườm vào vị trí đau. Tuyệt đối không chườm nóng lên vùng bụng trong suốt thời kỳ mang thai.

3. Massage:

xoa bóp vùng lưng (đặc biệt vùng thắt lưng) giúp giảm đau. Thai phụ ngồi ngồi áp mặt vào lưng ghế hoặc nằm nghiêng (giữ lưng thẳng) và nhờ người massage hai bên cột sống, tập trung vào vùng thắt lưng.

4. Tư thế đúng:

để tránh áp lực và gây tổn thương cột sống người phụ nữ cần:

– Tư thế đi, đứng, ngồi đúng:

lưng thẳng, kéo thẳng hai vai về phía sau. Tư thế ngồi phải thật vững sao cho hai chân có thể nâng lên nhẹ nhàng. Chọn ghế ngồi có phần tựa và đặt thêm chiếc gối nhỏ phía sau lưng. Hãy chú ý thay đổi tư thế, vị trí thường xuyên, tránh đứng quá lâu. Nếu phải đứng, hãy đứng trụ trên một chân để chân còn lại có thể nghỉ ngơi và đổi chân trụ thường xuyên. Thương xuyên thay đổi tư thế để tránh bị ứ trệ tuần hoàn và căng cứng các cơ: nếu ngồi lâu thì khoảng 30-60 phút đứng dậy đi lại hoặc đứng lâu thì 30-60 phút ngồi nghỉ ngơi

– Nâng đỡ bụng:

Có thể sử dụng đai nâng bụng hoặc mặc quần lưng thun dày nâng đỡ phần bụng để tránh bụng bị đổ về phía trước làm cột sống thắt lưng ưỡn quá mức. Nên đeo đai sau 20 tuần tuổi thai và đeo khi đi làm, sinh hoạt, tối về có thể tháo đai ra.

5. Tư thế ngủ:

khi ngủ nên nằm nghiêng và thay đổi tư thế thường xuyên để tránh bị mỏi. Mỗi lần thay đổi tư thế từ ngồi sang nằm, từ ngồi sang đứng hoặc ngược lại cần nhẹ nhàng, tránh thay đổi tư thế đột ngột. Nằm và ngồi trên mặt phẳng, không nên dùng nệm quá mềm.

Tóm lại đau lưng là triệu chứng khá thường gặp ở phụ nữ mang thai. Người phụ nữ mang thai cần duy trì chế độ luyện tập phù hợp để có thể giảm triệu chứng đau lưng. Nếu triệu chứng đau lưng nhiều ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày người phụ nữ cần đi khám để có thể phát hiện những bất cần điều trị sớm như thoát vị đĩa đệm.

Leave a reply →

Đau Thắt Lưng Ở Phụ Nữ Sau Sinh Thường, Mổ Phải Làm Sao

Bà bầu phải chịu rất nhiều vất vả trong thai kỳ từ chuyện ốm nghén, tăng cân cho đến đau lưng. Không những bị đau lưng khi mang thai mà sau khi sinh em bé cũng bị đau. Vì vậy bài viết này sẽ giúp chị em tìm hiểu và giải quyết tình trạng này

Đau lưng như thế nào là có thai

Đau thắt lưng và chậm kinh là hai biểu hiện đầu tiên của mang thai. Dĩ nhiên còn phải xét nhiều yếu tố khác nữa. Nếu chậm kinh từ 1 đến 2 tuần thì bạn nên dùng que thử thai, nếu xuất hiện hai vạch màu đỏ thì khả năng cao bạn đang có bầu.

Một số dấu hiệu khác giúp bạn nhận biết mình có bầu hay không là cơ thể thấy mệt mỏi, nhạy cảm với mùi, hay bị chuột rút, buồn nôn…

Triệu chứng đau lưng khi mới thụ thai

Ở giai đoạn đầu, bà bầu có nhiều biểu hiện khác lạ như buồn nôn, mệt mỏi và đau lưng khi mang thai tháng đầu. Nhiều chị em thấy đau mỏi khi ngồi hoặc làm việc lâu ở một tư thế thậm chí nhiều mẹ bị mất ngủ về đêm

Bệnh đau lưng ở phụ nữ mang thai gồm các kiểu sau đây:

Đau thắt lưng: đau mỏi các đốt xương sống ngang thắt lưng. Tình trạng này cũng có thể do trước khi mang thai bà bầu đã có thời gian bị đau ở phần eo. Đau có xu hướng nhiều hơn vào cuối ngày nếu mẹ bầu phải đứng hoặc ngồi quá lâu

Đau xương chậu: đau ở vùng đệm mặt sau xương chậu, sâu bên trong mông, có thể 1 hoặc cả hai bên mông hoặc mặt sau đùi.

Đau lưng khi mang thai 3 tháng đầu

Tử cung và bụng to ra làm chèn ép cột sống khiến các cơ cột sống giãn ra từ đó gây đau. Có đến 80% phụ nữ mang thai gặp phải tình trạng đau thắt lưng trong 3 tháng đầu nên bạn không cần quá lo lắng

Với đau lưng khi mới mang thai tháng đầu, dây chằng vùng bụng bị nới lỏng, cơ bụng căng ra gây đau. Vị trí đau thường ở vùng nối xương chậu và cột sống. Biểu hiện đau có thể lan xuống chân.

Với đau lưng khi mang thai tháng thứ hai, cơ thể người mẹ bắt đầu thiếu hụt canxi làm cho xương khớp trở nên yếu dần. Vì vậy bà bầu nên bổ sung nhiều hải sản, các loại rau xanh, đậu vào trong khẩu phần ăn để bổ sung canxi. Ngoài ra bổ sung vitamin C, D và sắt cũng rất quan trọng

Đau lưng khi mang thai tháng cuối

Lúc này thai nhi đã phát triển gần như toàn diện đặc biệt là kích thước và trọng lượng. Điều này khiến vùng cột sống và xương chậu của mẹ bầu bị ảnh hưởng gây tình trạng đau lưng.

Mặt khác cơ thể thai phụ sản sinh ra nhiều loại hormon làm cho dây chằng xương chậu lỏng rồi mềm ra, kết cấu phần lưng cũng không được chắc chắn. Hiện tượng này có thể giúp thai phụ sinh em bé dễ hơn nhưng cũng gây ra những cơn đau rất khó chịu

Ngoài 3 giai đoạn chính trên ra thì khi có bầu đau lưng còn xuất hiện ở tháng thứ 4, tháng thứ 7 và nhiều thời điểm khác nữa

6 Cách trị đau lưng cho bà bầu

Đứng thẳng

Bà bầu thường có xu hướng để lưng kéo về phía trước thành tư thế võng lưng khiến các cơ lưng bị hụt, căng và gây đau. Động tác đứng thẳng người giúp các cơ kéo căng ra tự nhiên. Một tư thế tốt sẽ có tác dụng như một bài tập giảm đau vậy

Duỗi thẳng vùng lưng dưới

Các cơ bụng và lưng thường phối hợp với nhau để hỗ trợ nâng đỡ phần giữa cơ thể. Việc duỗi thẳng lưng giúp tăng cường các cơ lưng một cách an toàn trong suốt thai kỳ.

Tập yoga

Trong thời kỳ mang thai, bà bầu không nên vận động quá mạnh nhưng việc tập thể dục đặc biệt là các bài tập yoga là rất cần thiết. Việc ở lì một chỗ, lười vận động càng khiến tình trạng đau trở nên trầm trọng

Massage

Xoa bóp nhẹ nhàng vùng lưng giúp máu dễ lưu thông, bạn sẽ cảm thấy thỏa mái hơn. Ngoài ra bạn cũng có thể chườm nóng hoặc lạnh giúp giảm nhức mỏi.

Từ bỏ đôi giày cao gót

Người bình thường đi giày cao gót đã thấy đau mỏi chứ chưa nói đến bà bầu. Đi giày cao gót khiến trọng lượng cơ thể dồn lên các ngón chân. Thay vào đó hãy chọn cho mình một đôi giày đế thấp, thỏa mái khi di chuyển

Dùng mẹo dân gian

Lá ngải cứu trộn với muối hạt rồi rang lên. Bọc hỗn hợp này vào khăn mỏng sau đó chườm vào vùng lưng bị đau vào buổi tối trước khi đi ngủ

Cách khác là lấy gừng rửa sạch, bỏ vỏ rồi ngâm trong rượu trắng khoảng nửa tháng. Dùng rượu này xoa bóp khi bị đau nhức

Bà bầu đau lưng có nên đấm lưng

Đây chắc hẳn là thói quen của nhiều người. Nhưng theo các chuyên gia thì điều này là không nên do có thể gây ra những ảnh hưởng không mong muốn cho sức khỏe người mẹ trong thời kỳ mang thai.

Bệnh đau thắt lưng ở phụ nữ sau sinh

Sinh mổ sẽ giảm bớt những cơn đau khi chuyển dạ nhưng sau đó lại để lại những cơn đau ở lưng kéo dài dai dẳng. Hiện tượng này xảy ra sau khi mổ do gây tê tủy sống, thiếu canxi sinh lý, vận động sau sinh sai cách và tư thế cho con bú không đúng.

Đau lưng sau sinh thường

Phụ nữ sau khi sinh thường bị tổn thương khí huyết, nếu không chú ý để giữ ấm cơ thể sẽ dễ bị gió lạnh tấn công, xâm lấn sức khỏe gây ra hiện tượng cơ thể thừa độ ẩm, đau đớn vùng lưng, xương khớp trên toàn cơ thể

Cách chữa đau lưng sau sinh

Khoảng 2 tháng sau khi sinh, khi sức khỏe đã ổn định trở lại thì các mẹ nên tập các động tác thể dục đơn giản nhẹ nhàng, phù hợp nhất là yoga. Ngoài ra đi bộ cũng là lựa chọn tốt.

Không nên xoay vặn cơ thể nhiều quá khi cho con bú mà hãy giữ bé gần với cơ thể nhất sau đó gập đầu gối lại rồi nâng bé với trọng lực dồn vào chân. Khi cho bé bú, mẹ nên ngồi thẳng lưng và khuyến khích mẹ thay đổi nhiều tư thế khác nhau

Bên cạnh đó massage nhẹ nhàng và chườm nóng vùng bị đau cũng là giải pháp tốt để giảm nhanh các triệu chứng đau nhức khó chịu

Hy vọng qua bài viết này, mẹ bầu không còn lo lắng với tình trạng đau lưng khi mang thai của mình nữa. Nếu cánh mày râu có đọc được thì hãy quan tâm chăm sóc và chia sẻ nhiều hơn với người vợ của mình.

Theo : chúng tôi

Vì Sao Phụ Nữ Sau Sinh Bị Đau Lưng?

Đau lưng sau sinh là chứng bệnh gây ra nhiều cản trở khi chăm sóc con nhỏ của chị em phụ nữ. Vậy vì sao phụ nữ sau sinh bị đau lưng? Cách khắc phục tình trạng này thế nào? Chị em có thể khắc phục tại nhà hay không?

1. Tại sao phụ nữ sau sinh bị đau lưng?

1.1. Nguyên nhân xuất phát từ trong thời kỳ mang thai

Nhiều nghiên cứu chỉ ra, những biến đổi về nội tiết, thể chất, sinh lý… trong thời kỳ mang thai là nguyên nhân hàng đầu gây ra chứng đau lưng ở phụ nữ sau sinh.

Cùng với sự phát triển của em bé, tử cung của người mẹ cũng lớn dần theo thời gian. Sự thay đổi kích thước của tử cung và em bé khiến cho cơ bụng bị yếu, phần lưng chịu nhiều lực hơn ảnh hưởng đến hình dáng cột sống và các cơ – dây chằng ở lưng. Đây là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra tình trạng đau lưng ở phụ nữ sau sinh.

Sự thay đổi nội tiết tố trong thời kỳ mang thai

Hormone relaxin được tiết ra trong thời gian mang thai có tác dụng thư giãn dây chằng và khớp nối vùng xương chậu, giúp các khớp lỏng hơn để chuẩn bị cho quá trình sinh nở của người mẹ. Tuy nhiên, tác động này cũng khiến cơ thể mẹ trở nên yếu và dễ bị đau nhức lưng, chân khi phải đứng lâu, đi lại nhiều hay khi nằm, ngồi trong thời gian dài sau khi sinh.

Thông thường, đau lưng do nội tiết sẽ kết thúc sau khoảng 3 – 4 tháng mẹ sinh em bé.

Lý giải về điều này, các chuyên gia cho biết, thời kỳ mang thai cơ thể mẹ phải cung cấp Canxi để phát triển hệ xương và cơ thể của thai nhi.

Trường hợp, chế độ dinh dưỡng của mẹ không đáp ứng được nhu cầu Canxi của con và các hoạt động của cơ thể, quá trình hủy xương sẽ được kích hoạt để huy động Canxi từ xương ra. Tình trạng này khiến cho mật độ Canxi trong xương bị suy giảm, cột sống yếu và dễ gặp phải tình trạng đau nhức, mỏi lưng.

Cân nặng tăng từ 10 – 20 kg trong thời kỳ mang thai nhiều làm tăng sức ép lên cột sống. Mặt khác, các khớp – cơ – dây chằng ở vùng lưng bị giãn quá mức là nguyên nhân khiến mẹ sau sinh dễ bị đau lưng hơn.

1.3. Dãn dây chằng sinh lý

Sau khi sinh, các dây chằng tại vị trí như xương chậu, thắt lưng còn “lỏng lẻo”. Do đó, các cơn đau lưng sẽ xuất hiện thường xuyên đến khi trương lực cơ của cơ bắp dần ổn định và dây chằng phục hồi độ đàn hồi như bình thường.

1.4. Yếu tố tâm lý

Tâm lý lo lắng, hồi hộp trong thời gian mang thai khiến cho các cơ bắp của các mẹ bị căng cứng. Điều này diễn ra trong thời gian dài khiến cho vùng lưng của các bà mẹ luôn có cảm giác nặng nề, mệt mỏi.

Mặt khác, sau sinh khi sinh, các mẹ bị căng thẳng, trầm cảm sẽ ít vận động hơn làm cơ thể chậm phục hồi, tích tụ các yếu tố độc hại và khiến cơn đau xuất hiện thường xuyên.

1.5. Chế độ dinh dưỡng thiếu dưỡng chất

Phụ nữ sau sinh bị đau lưng vì thiếu hụt dinh dưỡng, đặc biệt là Canxi là nguyên nhân hàng đầu. Việc thiếu hụt Canxi ở phụ nữ sau sinh có thể dẫn đến tình trạng loãng xương, giòn xương, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý xương khớp như thoái hóa hay thoát vị….

Ngoài ra, mẹ không đủ Canxi cũng là nguyên nhân khiến con bị thiếu Canxi dẫn đến tình trạng quấy khóc, còi cọc, chậm lớn, thấp lùn…. Do đó, các mẹ cần chú ý bổ sung đầy đủ dinh dưỡng cho cơ thể. Theo các bác sĩ, lượng Canxi mà mẹ cho con bú cần bổ sung mỗi ngày là khoảng 1300mg.

Các mẹ có thể bổ sung qua một số thực phẩm giàu Canxi như: Tôm, cua, cá, sữa, đậu, nấm, hàu, ngao, sò….

1.6. Sai tư thế

Vì sao phụ nữ sau sinh bị đau lưng? Tư thế hoạt động sai là nguyên nhân dễ xảy ra mà mẹ ít chú ý. Nó làm ảnh hưởng đến các khớp, căng cơ hoặc giãn dây chằng khiến mẹ bị đau lưng

Đa số các mẹ đều lựa chọn tư thế ngồi góc 90 độ khi cho con bú. Tư thế này không chỉ làm tăng áp lực lên cột sống dẫn đến nguy cơ thoát vị đĩa đệm mà còn khiến mẹ dễ bị nứt cổ gà và em bé dễ bị trào ngược sau khi bú hơn.

Theo các bác sĩ, tư thế đúng cho mẹ khi cho bé bú là ngả lưng một góc 125 độ. Tư thế này sẽ giúp lực ép dồn vào phần trước của đĩa đệm và giúp mẹ giải tỏa các cơn đau lưng hiệu quả.

Khi mang bầu, trọng lượng cơ thể mẹ thay đổi khiến cho áp lực lên cột sống, vùng thắt lưng tăng lên đáng kể. Do vậy, lúc ngủ là thời điểm quan trọng để giải tỏa bớt áp lực cho cột sống. Nếu mẹ lựa chọn sai tư thế ngủ sẽ khiến cột sống tiếp tục bị căng cứng, tổn thương và dẫn đến những cơn đau lưng sau khi sinh.

Tư thế ngủ được khuyến cáo cho mẹ bầu là nằm nghiêng về bên trái và có kê gối đỡ ở chân. Cột sống đỡ bị chèn ép sẽ giúp mẹ cảm thấy thoải mái hơn.

Khi ngồi gập người, phần cổ và cơ bắp của mẹ sẽ bị căng mỏi, áp lực dồn lên đốt sống ở vùng thắt lưng. Do đó, mẹ nên chủ động đứng dậy đi lại nhẹ nhàng sau khoảng mỗi 30 phút ngồi làm việc.

1.7. Gây tê vùng cột sống

Rất nhiều phụ nữ sau sinh cho rằng, cơn đau nhức lưng họ gặp phải là do biến chứng của gây tê tủy sống trong lúc sinh. Tuy nhiên, các bác sĩ cho biết, gây tê ngoài màng cứng rất ít khi tạo ra những cơn đau lưng sau sinh.

Biến chứng của gây tê tủy sống phổ biến nhất là run, ngứa và hạ huyết áp. Cảm giác đau lưng tại vị trí chọc kim sẽ hết ngay sau vài ngày khi vết kim liền sẹo.

Do vị trí gây tê nằm ngay vị trí thắt lưng nên nhiều bà mẹ cho rằng cơn đau của mình là do biến chứng của việc gây tê mà không biết nguyên nhân chính xuất phát từ thói quen và biến đổi trong thời kỳ mẹ mang thai.

1.8. Các bệnh lý xương khớp

Nguyên nhân từ bệnh lý xương khớp cũng cần được chú ý và thăm khám thường xuyên để phát hiện sớm. Bao gồm:

Thoái hóa đốt sống lưng, đốt sống cổ.

Thoát vị đĩa đệm.

Trật khớp cột sống.

Hẹp gian đốt sống.

Gù, vẹo cột sống….

1.9. Làm việc quá sức

Cơ thể bà mẹ sau sinh chưa ổn định và còn rất yếu. Vậy nên, nếu mẹ không được nghỉ ngơi đầy đủ mà phải làm việc quá sức sẽ làm tổn thương hệ thống cơ – xương – khớp, các dây chằng và gây ra những cơn đau lưng.

1.10. Đau lưng sau sinh do viêm

Quá trình viêm có thể xuất hiện do các khớp, dây chằng tại vị trí xương chậu, cột sống bị lỏng lẻo. Tình trạng viêm xảy ra kéo theo các triệu chứng sưng, nóng, đỏ, đau khiến người bệnh nhận biết được cần giải quyết triệu chứng đau nhức mình đang gặp phải.

Thông thường, khi cơn đau xuất hiện, người bệnh có xu hướng tránh tác động lên trên vùng đau. Tuy nhiên, điều này lại khiến cơn đau nặng thêm đặc biệt ở giai đoạn cuối sinh và phục hồi sau sinh.

1.11. Nguyên nhân khác

Bên cạnh một số nguyên nhân phổ biến như trên thì bà mẹ sau sinh cũng có thể bị đau lưng do một số nguyên nhân khác như:

Cơ thể chưa phục hồi sau sinh, khí huyết không đủ.

Nhiễm lạnh.

Đi giày cao gót.

Nằm đệm quá cũ, bị lún sâu, mềm.

Trên thực tế, cơn đau lưng sau sinh là hiện tượng sinh lý khá phổ biến sau khi các mẹ trải qua thời gian “mang nặng đẻ đau”. Tình trạng đau thường kéo dài khoảng 3 – 4 tháng và sẽ tự hết sau khi mẹ nghỉ ngơi và điều dưỡng cơ thể hợp lý. Tuy nhiên, với các mẹ sinh mổ thì cơn đau nhức lưng sẽ có một số điểm khác biệt như:

Thời gian đau lưng nhiều hơn so với phụ nữ sau sinh thường

Sinh mổ cơn đau có thể tái phát khi giao mùa, thời tiết thay đổi

Trường hợp các mẹ có cơn đau chuyển dạ kéo dài, nặng nề hay cơn đau nặng xuất hiện trong quá trình mang thai, hoặc bắt đầu trong thai kỳ sẽ có nguy cơ đau lưng dai dẳng sau sinh rất cao. Mẹ thực hiện các giải pháp phù hợp để giảm bớt cơn đau khó chịu.

2. Cách giải quyết đau lưng sau sinh

Để hạn chế tác động của cơn đau lưng sau sinh lên cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, các mẹ bầu cần lưu ý những điều sau:

Bổ sung dinh dưỡng đầy đủ, đặc biệt là nhóm chất tốt cho xương khớp gồm: Vitamin D – Vitamin K – Canxi

Dành thời gian nghỉ ngơi, tránh hoạt động mạnh hay công việc nặng nhọc

Giữ tinh thần thoải mái, tránh căng thẳng, stress kéo dài

Thực hiện xoa bóp, massage vùng lưng để giảm nhẹ triệu chứng

Thực hiện phục hồi chức năng cho vùng lưng nếu cảm thấy cần thiết

Dành thời gian tập luyện các bài tập tốt cho phụ nữ sau sinh.

Thủy Đậu Ở Phụ Nữ Có Thai

1.ĐẠI CƯƠNG.

Virus Varicella-zoster (VZV) là một trong tám loại herpes virus gây bệnh ở người. Nhiễm thủy đậu ở trẻ em thường nhẹ, bệnh tự giới hạn trong 1 – 2 tuần, trong khi nhiễm trùng ở người lớn thường nặng hơn với các biến chứng nặng có thể dẫn tới tử vong. Thủy đậu ở phụ nữ có thai thường có nhiều biến chứng, viêm phổi do thủy đậu thường nặng nề và có thể dẫn đến những bất thường bẩm sinh cho con.

Nhiễm VZV gây ra hai dạng bệnh khác nhau trên lâm sàng: varicella (thủy đậu) và herpes zoster (bệnh zona).

Thủy đậu: Nhiễm VZV nguyên phát dẫn đến phát ban mụn nước lan tỏa. Thủy đậu tiên phát ở phụ nữ có thai có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của mẹ và thai nhi:

< 2% thủy đậu gặp ở người lớn nhưng tỷ lệ tỷ vong do thủy đậu chiếm ¼ ở độ tuổi này. Vì vậy, phụ nữ mang thai là nhóm bệnh nhân nguy cơ biến chứng và tử vong cao đáng kể.

Mẹ mắc thủy đậu trong thời kỳ đầu mang thai (8 – 20 tuần), thai nhi có nguy cơ mắc hội chứng thủy đậu bẩm sinh, đặc trưng bởi chứng chi ngắn, tổn thương da, bất thường về thần kinh và cấu trúc mắt.

Bệnh thủy đậu ở bà mẹ khi mang thai có nguy cơ phát triển bệnh zona ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Mẹ mắc bệnh thủy đậu ngay trước hoặc ngay sau khi sinh, em bé có nguy cơ mắc bệnh thủy đậu sơ sinh.

2.DỊCH TỄ HỌC

Tỷ lệ mắc thủy đậu không cao hơn ở phụ nữ mang thai so với mặt bằng chung của người lớn, nhưng mức độ nghiêm trọng của bệnh thường nặng nề hơn. Viêm phổi do thủy đậu chiếm 10 – 20 % các nhiễm trùng gây biến chứng ở thai kì. Các yếu tố nguy cơ của viêm phổi do thủy đậu khi mang thai bao gồm tiền sử hút thuốc và nhiều hơn 100 tổn thương mụn nước ở da.

Các nghiên cứu thực hiện từ năm 1986 – 2002 cho thấy hội chứng thủy đậu bẩm sinh là không phổ biến, 2% phụ nữ mang thai nhiễm thủy đậu trong 20 tuần đầu thai kì sinh con mắc hội chứng thủy đậu bẩm sinh. Trong nghiên cứu tiến cứu lớn nhất về bệnh thủy đậu ở mẹ, đã có 344 trường hợp mắc zona ở mẹ và không có trường hợp nào mắc bệnh thủy đậu bẩm sinh ở con.

Tiêm phòng thủy đậu đã làm giảm số lượng nhiễm trùng thủy đậu ở mẹ và thai nhi, giảm 85% các trường hợp mắc bệnh thủy đậu ở trẻ sơ sinh so với thời kì chưa có vaccine thủy đậu.

3.ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

3.1 Thủy đậu không biến chứng: Hình thái lâm sàng giống thủy đậu thông thường.

– Cơ năng: Thường ngứa, có thể sốt nhẹ, mệt mỏi, đau mỏi cơ 1 -4 ngày trước khi phát ban da.

– Phát ban da: thường  khởi đầu ở mặt, sau đó lan đến thân mình và tứ chi, tiến triển từ 1 – 4 ngày. Bắt đầu là sẩn đó , sau đó hình thành mụn nước lõm giữa, nếu bội nhiễm hình thành các mụn mủ. Các tổn thương vỡ sau đó đóng vảy, vảy bong có thể để lại dát tăng giảm sắc tố do viêm.

Hình 1: Phát ban đặc trưng của thủy đậu: Mụn nước, mụn mủ lõm giữa.

3.2 Thủy đậu có biến chứng;

Viêm phổi do thủy đậu là biến chứng thường gặp nhất do thủy đậu ở phụ nữ có thai. Các dấu hiệu và triệu chứng chủ yếu là ho, khó thở, sốt và thở nhanh. Viêm phổi thường phát triển trong vòng một tuần sau khi phát ban. Diễn biến lâm sàng không thể dự đoán và có thể nhanh chóng tiến triển đến tình trạng thiếu oxy và suy hô hấp. X-quang ngực có hình ảnh thâm nhiễm lan tỏa hoặc các nốt  trong phân bố quanh 2 rốn phổi.

4.BIẾN CHỨNG

4.1 Hội chứng thủy đậu bẩm sinh, được mô tả lần đầu tiên vào năm 1947, được đặc trưng bởi:

Sẹo da

Bất thường về thần kinh (ví dụ, chậm phát triển tâm thần, tật đầu nhỏ, não úng thủy, co giật, hội chứng Horner)

Bất thường ở mắt (ví dụ, teo dây thần kinh thị giác, đục thủy tinh thể, viêm màng bồ đào, rung giật nhãn cầu)

Bất thường về chi thể (chi ngắn, teo, nhược chi)

Bất thường đường tiêu hóa (trào ngược dạ dày, tắc ruột)

Cân nặng khi sinh thấp

Hội chứng thủy đậu bẩm sinh có tỷ lệ tử vong là 30% trong vài tháng đầu đời và 15% nguy cơ phát triển zona trong bốn năm đầu đời.

Hình 2: Các đặc trưng lâm sàng của hội chứng thủy đậu bẩm sinh

4.3 Nhiễm thủy đậu sơ sinh – Nhiễm thủy đậu sơ sinh là kết quả của việc truyền virus từ mẹ sang thai nhi ngay trước khi sinh ( 5 ngày trước sinh đến 2 ngày sau sinh).

Hình 3: Tổn thương thủy đậu ở trẻ sơ sinh 5 ngày tuổi có mẹ mắc thủy đậu thai kì

5.CHẨN ĐOÁN

5.1 Thủy đậu thai kì:

Chẩn đoán dựa vào lâm sàng.

Nếu có nghi ngờ về chẩn đoán lâm sàng, có thể làm thêm xét nghiệm PCR dịch mụn nước hoặc xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang. VZV cũng có thể được nuôi cấy từ dịch mụn nước, mặc dù virus nhân lên chậm và nuôi cấy kém nhạy hơn các kỹ thuật phát hiện trực tiếp.

Xét nghiệm huyết thanh thường không cần thiết để chẩn đoán bệnh thủy đậu ở mẹ và có thể gây nhầm lẫn do các xét nghiệm khác nhau về độ nhạy và độ đặc hiệu.

Chẩn đoán viêm phổi do varicella nên được xem xét khi một phụ nữ mang thai có tổn thương da điển hình, tiếp xúc với nguồn lây và có các triệu chứng hô hấp.

5.2 Hội chứng varicella bẩm sinh

Chẩn đoán trước sinh – Sau khi nhiễm trùng mẹ, nguy cơ mắc hội chứng thủy đậu bẩm sinh có thể được ước tính bằng cách sử dụng xét nghiệm PCR máu hoặc nước ối thai nhi tìm DNA VZV kết hợp với siêu âm để phát hiện các bất thường của thai nhi.

Xét nghiệm PCR có độ nhạy cao, thực hiện từ tuần 17 -21 thai kì. Siêu âm hình thái thai nên thực hiện năm tuần sau khi nhiễm trùng mẹ để đánh giá các bất thường của thai nhi phù hợp với hội chứng thủy đậu bẩm sinh, siêu âm lặp lại từ 22 đến 24 tuần được chỉ định. Nếu siêu âm lặp lại là bình thường, nguy cơ hội chứng varicella bẩm sinh là rất thấp. Nếu siêu âm cho thấy bằng chứng của hội chứng thủy đậu bẩm sinh, mẹ nên được tư vấn về khả năng mắc bệnh thai nhi.

Chẩn đoán sau sinh – Chẩn đoán hội chứng thủy đậu bẩm sinh dựa vào.

Tiền sử nhiễm thủy đậu của mẹ trong ba tháng đầu hoặc 3 tháng giữa của thai kỳ

Bất thường thai nhi phù hợp với hội chứng thủy đậu bẩm sinh

Bằng chứng nhiễm trùng VZV trong tử cung, dựa vào: xét nghiệm PCR tìm DNA virus ở trẻ sơ sinh; sự hiện diện của kháng thể IgM đặc hiệu VZV trong máu cuống rốn; sự tồn tại của VZV IgG sau bảy tháng tuổi; mắc bệnh zona trong giai đoạn sớm.

6.ĐIỀU TRỊ THỦY ĐẬU TRONG THAI KÌ

6.1 Thủy đậu không biến chứng.

– Khuyến cáo điều trị bằng acyclovir đường uống cho tất cả phụ nữ mang thai: 800 mg x 5 lần/ngày x 7 ngày, điều trị bằng acyclovir có hiệu quả nhất trong vòng 24 giờ đầu.

Chưa có nghiên cứu về sử dụng acyclovir đường uống trong điều trị thủy đậu không biến chứng ở phụ nữ mang thai. Mặc dù dữ liệu động vật và dữ liệu quan sát từ phụ nữ có thai lớn không cho thấy khả năng gây quái thai của acyclovir. Một nghiên cứu tiến cứu trên thai kỳ phơi nhiễm acyclovir cho thấy tăng tỷ lệ dị tật bẩm sinh hoặc thay đổi mô hình dị tật bẩm sinh ở 596 trẻ được theo dõi.

Một thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng giả dược ở người trưởng thành nam và nữ đánh giá hiệu quả của acyclovir trong vòng 72 giờ kể từ khi khởi phát triệu chứng cho thấy vết thương ngoài da lành nhanh hơn và thời gian sốt rút ngắn hơn.

6.2 Viêm phổi do thủy đậu

– Viêm phổi do thủy đậu ở thai kì là một cấp cứu y tế, tỷ lệ tử vong ở phụ nữ mang thai khi chưa có thuốc kháng virus là 36- 40%. Mặc dù không có thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát acyclovir trong điều trị viêm phổi thủy đậu, dữ liệu quan sát cho thấy tác động có lợi của liệu pháp kháng vi-rút đối với tỷ lệ tử vong của mẹ.

Một nghiên cứu hồi cứu 21 trường hợp viêm phổi do varicella ở phụ nữ mang thai được điều trị bằng acyclovir, tỷ lệ tử vong là 14%, thấp hơn so với nhóm phụ nữ không được điều trị.

Một nghiên cứu quan sát trên 18 bệnh nhân bị viêm phổi thủy đậu, 12 bệnh nhân trong đó cần đặt nội khí quản và thở máy được điều trị bằng acyclovir, tỷ lệ tử vong là 0%.

Mặc dù acyclovir đi qua nhau thai, chưa có dữ liệu chứng minh thuốc kháng vi rút này có làm giảm nguy cơ mắc hội chứng vthủy đậu bẩm sinh hay không.

7.TÓM TẮT VÀ KIẾN NGHỊ

Nhiễm virut Varicella-zoster (VZV) gây ra hai dạng bệnh khác nhau trên lâm sàng: varicella (thủy đậu) và herpes zoster (bệnh zona). Thủy đậu thường nhẹ, tự giới hạn ở trẻ em khỏe mạnh, nhưng đôi khi có thể dẫn đến bệnh tật nghiêm trọng khi mang thai.

Tỷ lệ mắc bệnh thủy đậu thấp ở người lớn vì hầu hết đều có kháng thể với virus. Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh thủy đậu không tăng ở nhóm phụ nữ mang thai, nhưng mức độ nghiêm trọng của bệnh cao hơn trong thai kỳ.

Tỷ lệ mắc hội chứng thủy đậu bẩm sinh ở phụ nữ có thai mắc thủy đậu thường thấp (0,4-2%).

Varicella rất dễ lây lan, thời gian dễ lây lan nhất từ một đến hai ngày trước khi phát ban cho đến khi các tổn thương bị vỡ. Lây truyền VZV từ mẹ sang con có thể xảy ra ở tử cung, chu sinh hoặc sau sinh.

Một trong những biến chứng thường gặp nhất cho mẹ nhiễm thủy đậu thai kỳ là viêm phổi, diễn biến lâm sàng là không thể dự đoán và có thể nhanh chóng tiến triển đến tình trạng thiếu oxy và suy hô hấp, với tỷ lệ tử vong cao.

Hội chứng thủy đậu bẩm sinh được đặc trưng bởi sẹo ở da, chậm phát triển và các bất thường về thần kinh, mắt và chi.

Chẩn đoán nhiễm trùng thủy đậu ở mẹ dựa vào lâm sàng với các phát ban mụn nước đặc trưng.

Sử dụng xét nghiệm PCR của máu thai nhi hoặc nước ối để tìm VZV DNA có thể dự đoán khả năng mắc thủy đậu ở con, kết hợp với siêu âm để phát hiện các bất thường cấu trúc của thai nhi.

Acyclovir không gây quái thai, khuyến cáo sử dụng acyclovir đường uống cho phụ nữ mang thai nhiễm thủy đậu không biến chứng (Độ 2C), cho phụ nữ mang thai bị viêm phổi thủy đậu (Độ 1B). Acyclovir nên được tiêm tĩnh mạch với liều 10 mg / kg cứ sau 8 giờ ở những bệnh nhân bị nhiễm thủy đậu biến chứng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Laura E Riley, MD, Varicella-zoster virus infection in pregnancy, uptodate, 8/2019.

Lamont RF, Sobel JD, Carrington D, et al. Varicella-zoster virus (chickenpox) infection in pregnancy. BJOG 2011; 118:1155.

Marin M, Güris D, Chaves SS, et al. Prevention of varicella: recommendations of the Advisory Committee on Immunization Practices (ACIP). MMWR Recomm Rep 2007; 56:1.

Enders G, Miller E, Cradock-Watson J, et al. Consequences of varicella and herpes zoster in pregnancy: prospective study of 1739 cases. Lancet 1994; 343:1548.

Cohen A, Moschopoulos P, Stiehm RE, Koren G. Congenital varicella syndrome: the evidence for secondary prevention with varicella-zoster immune globulin. CMAJ 2011; 183:204.

Stagno S, Whitley RJ. Herpesvirus infections of pregnancy. Part II: Herpes simplex virus and varicella-zoster virus infections. N Engl J Med 1985; 313:1327.

Bài viết: BSNT Nguyễn Thị Thảo Nhi

Đăng bài: Phòng CTXH

Bạn đang xem bài viết Đau Lưng Ở Phụ Nữ Mang Thai trên website Poca-ngoaihanganh.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!